Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2011

KỊCH BẢN ISRAEL TẤN CÔNG IRAN

Đất rộng, người đông GDP năm 2010 ước tính tới 357 tỷ USD, Iran có đầy đủ các yếu tố để trở thành một trong những nước có tiềm lực quân sự mạnh nhất khu vực.
Kỳ 1: Tiềm lực quân sự Iran

(ĐVO)
Trong thời gian gần đây, bất chấp những lời đe dọa trừng phạt của Mỹ, Israel và đồng minh, Iran vẫn bảo lưu quan điểm về chương trình hạt nhân của mình.



Chắc chắn Iran không thể không biết hậu quả của những nước đi ngược lại lợi ích của các nước phương Tây qua các cuộc chiến tại Afghanistan, Iraq và mới đây nhất là Libya. Tuy nhiên thái độ cứng rắn của Iran không phải không có cơ sở nếu chúng ta nhìn vào tiềm lực quốc phòng của đất nước này.


Không giống như các nước khác, lực lượng vũ trang của Iran chia thành hai nhánh chính hoạt động khá độc lập với nhau gồm Quân đội Cộng hòa Hồi giáo Iran (IRIA - Islamic Republic of Iran Army) chịu trách nhiệm về chiến đấu bảo vệ lãnh thổ và Lực lượng Vệ binh Cách mạng (IRGC - Islamic Revolution Guardians Corps) phụ trách các vấn đề an ninh.

Các binh sĩ Iran tham gia duyệt binh.
Dù quy mô và nhiệm vụ không giống nhau nhưng cả 2 lực lượng này đều có các binh chủng hải, lục và không quân riêng. Riêng IRGC còn có lực lượng đặc nhiệm Quds và Binh chủng tên lửa đối đất của Iran.

Hiện tại, IRIA đang có trong tay 465.000 binh lính, trong đó 230.000 người là quân nhân chuyên nghiệp và 235.000 người là lính nghĩa vụ, còn IRGC có quy mô 125.000 lính chính quy và khoảng 90.000 dân binh thuộc lữ đoàn bán vũ trang Basij.

Trước cách mạng Hồi giáo năm 1979, Iran là một trong những đồng minh thân cận của phương Tây, vì vậy quân đội nước này đều được trang bị những vũ khí Âu Mỹ tối tân hiện đại nhất như trực thăng tấn công AH-1J, máy bay tác chiến không đối không tầm xa F-14 Tom Cat...

Tuy nhiên, sau cuộc Cách mạng Hồi giáo 1979, bị phương Tây cấm vận, Iran đã mở rộng nguồn cung cấp vũ khí ra các thị trường mới như Nga, Trung Quốc, Brazil... và đặc biệt là đã đạt được nhiều thành công trong việc hiện đại hóa nền công nghiệp quốc phòng, từ đó đã tự túc được rất nhiều loại vũ khí khí tài hiện đại.

Vị trí địa lý của Iran trong khu vực.
Hải quân

Nắm giữ vùng biển quan trọng, trong đó có eo biển Hormuz với 40% lưu lượng dầu thô giao dịch trên thế giới, Iran đang cố gắng xây dựng một lực lượng hải quân lớn và có sức mạnh đáng kể.

Đặc biệt, do yếu tố địa lý nhỏ hẹp của vùng vịnh Persian, xác suất cao phải chiến đấu với các quốc gia có tiềm lực hải quân mạnh hơn, Iran đã đầu tư mạnh vào lực lượng tàu cao tốc tấn công trang bị tên lửa và lực lượng tàu ngầm.
tàu đệm không khí trang bị tên lửa chống hạm của Iran.

Hải quân Iran hiện nay sở hữu một lực lượng lớn gồm 28.000 binh sĩ; 13 tàu ngầm các loại, 5 hộ vệ hạm; 3 tàu tàu hộ vệ cỡ nhỏ; 98 tàu tuần tiễu và hơn 100 tàu cao tốc tấn công có trang bị tên lửa.

Ngoài ra, binh chủng này cũng sở hữu lực lượng không quân riêng với 65 máy bay, trong đó có cả máy bay săn ngầm P-3 Orion do Mỹ sản xuất.
Iran đang vận hành 3 tàu ngầm tấn công lớp Kilo do Nga sản xuất.
Trong số tàu ngầm của Iran sở hữu, nổi bật nhất là 3 chiếc Project 877EKM lớp Kilo do Nga sản xuất. Dù vậy, đây là những chiếc Kilo biến thể đầu tiên nên tính năng hoạt động và vũ khí không thể so sánh với những chiếc Kilo Project 636 Nga bán ra sau này.

Ngoài ra, những chiếc tàu ngầm còn lại đều thuộc lớp Nahang và Ghadir do nước này tự sản xuất, vốn là những tàu ngầm mini có lượng giãn nước chỉ từ 150 - 400 tấn và khả năng chiến đấu rất hạn chế.

Một chiếc tàu ngầm mini lớp Ghadir đang được hoàn thiện trong nhà máy.
Năm 2008, Iran  công bố nước này đã bắt đầu đóng chiếc tàu ngầm tấn công nội địa đầu tiên giãn nước trên 1.000 tấn có tên Qaem.

Theo những thông tin phía Iran cung cấp, loại tàu ngầm này sẽ được trang bị nhiều công nghệ hiện đại, trong đó vũ khí sẽ bao gồm cả ngư lôi và tên lửa.

tàu hộ vệ Jamaran là chiếc tàu chiến hiện đại nội địa lớn nhất hiện nay của Iran.
Về lực lượng tàu nổi, không chỉ đầu tư vào các tàu cao tốc tên lửa với nhiệm vụ phòng vệ, Iran cũng đang bắt tay đóng các chiến hạm lớn, trang bị vũ khí mạnh, có khả năng tác chiến dài ngày để gia tăng sự hiện diện của nước này trên các vùng biển quốc tế.

Tiêu biểu cho những chiến hạm này là hộ vệ hạm lớp Moudge có tên Jamaran mới được Iran hoàn thành. Jamaran là một tàu chiến tấn công có khả năng tác chiến rất mạnh, được trang bị 4 tên lửa chống hạm Noor (biến thể nội địa Iran sản xuất theo tên lửa C-802 của Trung Quốc) tầm bắn 200 km; tên lửa phòng không Fajr (copy tên lửa SM-1 của Mỹ)  cùng ngư lôi và pháo hạm 76 mm.

Vào thời điểm hiện nay, Iran cũng đang tiến hành đóng tàu hộ vệ lớp Moudge cải tiến với khả năng tác chiến vượt trội so với Jamaran. Dự tính chiếc hộ vệ hạm mới có tên Velayat sẽ phục vụ hải quân Iran trong tương lai gần.

Những chiếc tàu cao tốc này có thể đạt tốc độ tới 150 km/h. Cùng với tên lửa chống hạm, nó sẽ là mối đe dọa chết người với các tàu chiến tại vùng biển nông thuộc vịnh Persian
Máy bay F-14A Tomcat của Không quân Iran.
Một phi đội gồm máy bay F-14, F-4 và Mig-29 của không quân Iran bay biểu diễn.
Máy bay Azarakhs (sấm sét) của Iran chế tạo dựa trên F-5E của Mỹ
Máy bay F-16 Mỹ bán cho chính quyền Shas của Iran.
Phòng không - không quân
Nhằm bảo vệ các mục tiêu quan trọng, đặc biệt là cơ sở hạt nhân, Iran đã xây dựng một lực lượng phòng không - không quân đông đảo và có chất lượng cao trong khu vực.

Không quân Iran vào giai đoạn trước cách mạng Hồi giáo đã sở hữu những trang bị hiện đại nhất khu vực. Dưới sự trị vì của vương triều Shas, Mỹ đã viện trợ và bán cho Iran 160 máy bay F-16, 79 máy bay F-14A Tomcat, 32 máy bay F-4D Phantom, 177 máy bay F-4E, 16 máy bay trinh sát điện tử RF-4E Phantom II, 140 máy bay F-5E và 28 máy bay F-5F hai chỗ ngồi.

Sau khi bị cấm vận từ năm 1979 cùng với cuộc chiến tranh Iran - Iraq, Iran đã dần cạn kiệt nguồn phụ tùng thay thế cho những máy bay này, do đó, số máy bay phương Tây còn phục vụ hiện nay trong quân đội Iran không còn nhiều (chỉ còn khoảng 25 chiếc F-14A và hơn 100 máy bay F-4; F-5 còn đang hoạt động).

Dù vậy, Iran cũng đã đạt được thành tựu khi không chỉ sản xuất được phụ tùng thay thế mà còn có khả năng tự nâng cấp những loại máy bay này. Tiêu  biểu Iran đã sản xuất được máy bay Saeqeh, biến thể nâng cấp của máy bay F-5A và Azarakhsh là loại máy bay tự sản xuất hoàn toàn dựa trên máy bay F-5E của Mỹ.

Sau nămm 1979, Iran cũng đã mua khá nhiều máy bay từ các nước khối XHCN như máy bay tiêm kích J-7M của Trung Quốc, Mig-29, Su-24MK của Nga và máy bay vận tải Il-76TD.

Một nguồn cung cấp máy bay cho Iran không thể không kể đến là những chiếc máy bay do phi công Iraq đào tẩu khi Mỹ tấn công Iraq trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất gồm các loại như Mirage-F1 (ít nhất một phi đội), Su-24MK (Fencer-D), Mig-29, Su-22M, Su-25, Mig-24 và Il-76.

Trong số các máy bay này, những chiếc Mirage F1 và Su-24MK vẫn còn đang phục vụ bình thường trong lực lượng Không quân Iran.

Chiếc máy bay cảnh báo sớm (AEW) Il-76 Adnan này là do các phi công Iraq "biếu không" cho Iran
Ngoài ra, công nghiệp Iran cũng đã tự chủ trong việc sản xuấ nhiều loại máy bay trực thăng và máy bay huấn luyện theo các nguyên mẫu nước ngoài như Shavabiz 75 (biến thể của trực thăng Bell 214C), Shahed 274 (chủ yếu dựa theo trực thăng Bell-206), máy bay huấn luyện JT2-2 Tazarv, máy bay huấn luyện hạng nhẹ Parastu ( biến thể của máy bay F33 Bonanza do Mỹ sản xuất).

Không những sở hữu số lượng máy bay hùng hậu, không quân Iran cũng đã tích lũy được khá nhiều kinh nghiệm tác chiến từ cuốc chiến tranh 9 năm với người láng giềng Iraq. Đồng thời, qua cuộc chiến này, Iran cũng đã làm chủ được nhiều loại vũ khí của cả phương Tây và khối XHCN.

Trong những năm gần đây, bên cạnh việc tự phát triển các loại máy bay chiến đấu mới, Iran cũng đang nỗ lực tìm nguồn cung cấp các chiến đấu cơ hiện đại. Trong số các loại máy bay nước này quan tâm có thể kể đến máy bay chiến đấu đa nhiệm Su-30 của Nga, J-10 hay JF-17 Thunder của Trung Quốc. Tuy nhiên, dưới áp lực của Mỹ và phương Tây, hiện Iran chưa ký được một hợp đồng nào để mua những loại máy bay này.

Iran tự nhận là nước đầu tiên chế tạo tên lửa đánh chặn tên lửa không đối không.
Tên lửa có thiết kế giống S-300 của Nga.
Tên lửa phòng không 2K12 Kub (SA-6) của Iran.
Dù sở hữu số lượng máy bay khá lớn, nhưng hầu hết những loại máy bay này đã lỗi thời khi so sánh với máy bay F/A-18 của Mỹ hay F-15, F-16 của Israel, do đó nhiệm vụ bảo vệ các mục tiêu quan trọng của Iran vẫn phải dựa nhiều vào lực lượng phòng không.

Tương tự không quân, lực lượng phòng không Iran cũng sở hữu nhiều loại vũ khí khác nhau của cả phương Tây và Nga.

Ngoài các hệ thống tên lửa phòng không cũ như S-200, 2K12 Kub, S-125 (Nga), MIM-23 Hawk, SM-1 (Mỹ), mới đây Iran cũng đã mua 29 hệ thống phòng không tầm ngắn Tor của Nga. Đây là hệ thống phòng không cơ động, có khả năng phản ứng nhanh và có thể đối phó với các tên lửa hành trình.

Ngoài ra, quân đội Iran cũng được trang bị nhiều loại tên lửa tầm nhiệt vác vai hiện  đại như SA-16/18 Igla, RBS-70 của Thụy Điển.
Bên cạnh tên lửa phòng không, Iran cũng được trang bị mạng lưới pháo phòng không tầm thấp dày đặc, trong đó có cả những hệ thống hiện đại điều khiển bằng máy tính, dẫn bắn bằng radar và thiết bị ngắm quang điện tử như Skyguard do Thụy Sĩ sản xuất.

Ngoài ra, công nghệ quốc phòng của Iran cũng làm chủ, sản xuất được nhiều loại tên lửa phòng không hiện đại khác.

Đáng kể nhất là tên lửa biến thể S-300 (Iran tuyên bố tự sản xuất sau khi hợp đồng mua bán với Nga bị đổ bể, có thể có sự hỗ trợ kỹ thuật và linh kiện từ Nga hoặc Belarus), tên lửa Messad (là biến thể nâng cấp của tên lửa MIM-23 Hawk của Mỹ với radar và thiết bị điều khiển mới, có độ chính xác và tầm bắn vượt xa nguyên bản.

Binh sĩ Iran đang vận hành pháo 35 mm trong hệ thống phòng không Sky Guard
Tên lửa

Lực lượng tên lửa đối đất là “nắm đấm” đáng gờm của Iran đối với các quốc gia có ý định tấn công nước này, đặc biệt là Israel.
Từ những tên lửa Scud mua ban đầu của Nga và một phần nhờ sự giúp đỡ của Trung Quốc, Triều Tiên, Iran đã tự chế tạo được rất nhiều loại tên lửa đạn đạo nguy hiểm.

Bước đầu, Iran đã thành công trong việc chế tạo các tên lửa đạn đạo tầm ngắn hoạt động bằng nhiên liệu lỏng như Shahab-1 (tầm bắn 350 km, dựa trên tên lửa Scud-B), Shahab-2 (tầm bắn 750 km, dựa trên Scud-C).

Tên lửa đất đối đất Fateh-110 có tầm bắn 300 km với tốc độ tới 1.200 m/s nên gần như không thể đánh chặn.
Sau đó, Iran ngày càng tiến bộ khi đã thành công trong việc chế tạo các tên lửa tầm trung có tầm bắn từ 2.000 - 3.000 km, có khả năng vươn tới Israel và toàn bộ các căn cứ quân sự của Mỹ tại vùng Vịnh.

Đặc biệt, các tên lửa mới này (như Shahab-3 tầm bắn từ 1.200 - 2.000 km; Ghadr-110 tầm bắn 2.500 - 3.000 km, Sajjil-2 tầm bắn 2.000 - 2.500 km) đều sử dụng nhiên liệu rắn, do đó thời gian triển khai phóng sẽ nhanh hơn và đối phương có ít thời gian chống trả hơn.

Tên lửa Sajjil có tầm bắn tới 2.500 km và có khả năng mang đầu đạn hạt nhân
Thêm nữa, những tên lửa như Ghadr-110 có thể mang đầu đạn nặng tới 750 kg, nghĩa là chúng hoàn toàn có thể được vũ trang bởi đầu đạn hạt nhân nếu Iran làm chủ được công nghệ vũ khí nguyên tử này.

Súng trường tấn công Khaybar KH-2002 do Iran tự chế tạo
Bộ binh

Dù xác suất có một cuộc tấn công bằng bộ binh của Mỹ hay Israel vào Iran là rất nhỏ nhưng không vì thế mà Iran sở hữu lực lượng lục quân yếu.

Lực lượng lục quân Iran đang sở hữu một lực lượng lớn với 350.000 binh sĩ, trong đó 130.000 người là quân nhân chuyên nghiệp, còn lại là lính nghĩa vụ.

Kể từ sau cách mạng Hồi giáo năm 1979, lực lượng lục quân Iran đã được biên chế lại với ba sư đoàn bộ binh cơ giới, 7 sư đoàn bộ binh, một lữ đoàn dù và một sư đoàn đặc nhiệm.

Năm 2004, lực lượng này lại được tổ chức lại một lần nữa với bốn sư đoàn cơ giới, 6 sư đoàn bộ binh, hai lữ đoàn đặc nhiệm và một lữ đoàn dù cùng một số đơn vị độc lập khác.

Pháo Koksan 175 mm do Triều Tiên sản xuất trong biên chế quân đội Iran
Sư đoàn đặc nhiệm số 23 của Iran hiện là đơn vị tinh nhuệ nhất của quân đội nước này với 5.000 quân nhân chuyên nghiệp. Sư đoàn này được chia thành 4 lữ đoàn bao gồm một lữ đoàn hỗ trợ đường không và các lữ đoàn cơ giới hỗn hợp, bao gồm cả một lữ đoàn đổ bộ đường biển được tổ chức tương tự lực lượng thủy quân lục chiến của phương tây.

Hỗ trợ lực lượng bộ binh này là 65 máy bay tấn công mặt đất cùng 320 trực thăng chở quân và chiến đấu, bao gồm chủ yếu là máy bay AH-1J do Mỹ sản xuất.

Hiện lục quân Iran vẫn vận hành nhiều loại vũ khí của cả Nga và phương Tây như xe tăng M-60 của Mỹ, Chieftaincủa Anh, T-54, T-62 và T-72 của Nga. Ngoài ra, Iran cũng có loại xe tăng nội địa với tên Zulfiqar.

Ba biến thể của xe tăng này là Zulfiqar-1 và Zulfiqar-3 sử dụng nhiều chi tiết của cả xe tăng Mỹ và Nga như pháo 2A46 125 mm sản xuất theo pháo của xe tăng T-72 và hệ thống xích, nhún lấy từ xe tăng M-60 của Mỹ.

Iran cũng tự nâng cấp hầu hết số xe tăng T-54 của mình lên chuẩn mới với tên Safir-74 hay còn gọi là T-72Z.

Xe tăng Zulfiqar-3, mẫu xe tăng mới nhất của Iran được cho là có tính năng không kém các xe tăng hiện đại phương Tây
Ngoài ra, Iran cũng tự sản xuất được nhiều hầu hết các loại vũ khí bộ binh như súng trường tấn công Khaybar KH-2002, tên lửa chống tăng Toophan...mặc dù những vũ khí này vẫn dựa một phần hay hoàn toàn vào thiết kế của vũ khí nước ngoài.

Có thể thấy hiện nay Iran đang sở hữu một lực lượng quân đội hùng mạnh trong khu vực. Vũ khí nước này dù chưa phải quá hiện đại và khá lộn xộn do pha trộn giữa hai hệ vũ khí phương Tây và Nga - Trung Quốc, tuy nhiên, nhờ đầu tư nghiêm túc vào công nghiệp quốc phòng, Iran dần đã tự chủ và ngày càng hiện đại hóa được trang thiết bị quân sự của mình.

Nếu Mỹ và Israel muốn đối phó với đất nước này thì những gì đã làm với Iraq hay Afghanistan chắc chắn là không đủ.

Là một đất nước có diện tích nhỏ, dân số hạn chế nhưng Israel lại thắng thế trong hầu hết các cuộc xung đột với cả khối Arab rộng lớn xung quanh.
Vị trí của Israel trong khu vực và các nước tiếp giáp

(ĐVO) Nguyên nhân không chỉ ở sự ủng hộ của phương Tây mà còn nằm ở tiềm lực quốc phòng cực mạnh của đất nước này.


Kỳ 2: Tiềm lực quân sự Israel

So với các nước trong khu vực Trung Đông, Israel là một nước có diện tích khá nhỏ, chỉ gần 21.000 km vuông (bằng 1/9 diện tích Syria, 1/50 Ai Cập hay 1/80 Iran). Dân số của Israel cũng ở mức khiêm tốn với gần 8 triệu dân.


Tuy nhiên, Quân đội Israel là một lực lượng không hề nhỏ bé trong khu vực. Với quân số 187.000 quân, đội quân này đông bằng gần một nửa Quân đội Iran, vốn có dân số đông hơn 9 lần và diện tích rộng hơn 80 lần, chưa kể về trang bị vũ khí hiện đại, Israel không thua kém bất kỳ đất nước nào trong khu vực.


Hải quân

Với bờ biển ngắn, chỉ 273 km, trong đó ngoài 7 km đường bờ biển giáp với biển Đỏ, còn lại hầu hết đường bờ biển của Israel thuộc về biển Địa Trung Hải, một vùng biển ít nguy cơ xung đột kể từ sau khi nước này kết thúc chiến tranh với Ai Cập. Chính vì lẽ đó, hiện nay Israel xây dựng lực lượng hải quân khá hạn chế với 1.000 sĩ quan và 8.000 binh lính, trong đó có 3.200 lính là quân nghĩa vụ.



Được thành lập lại năm 1987, sau gần 25 năm, lực lượng này đã có trong tay 3 tàu ngầm tấn công, ba tàu hộ tống cỡ nhỏ, 10 tàu cao tốc tên lửa, 40 tàu tuần tiễu và hai chiếc tàu đổ bộ đệm khí.

tàu ngầm tấn công Dolphin đóng tại cảng Haifa
Ba chiếc tàu ngầm Israel sở hữu thuộc loại tàu ngầm tấn công chạy diesel thuộc lớp Dolphin do Đức sản xuất dựa trên loại tàu ngầm Type-209 chuyên để xuất khẩu của nước này.

Những chiếc tàu ngầm này có giãn nước 1.640 tấn lúc nổi và 1.900 tấn khi chìm. Dù chỉ có kích thước bằng một nửa tàu ngầm Project 877EKM  lớp Kilo của Iran nhưng vũ khí của tàu ngầm lớp Dolphin cũng không hề thua kém, thậm chí còn vượt trội Kilo. Trong khi Kilo chỉ có 6 ống phóng ngư lôi cỡ 533 mm thì Dolphin vũ trang đến 10 ống phóng ngư lôi, gồm 6 ống cỡ nòng 533 mm có khả năng phóng tên lửa chống hạm Harpoon phiên bản phóng từ tàu ngầm và 4 ống cỡ nòng 650 mm.

Hiện có thông tin cho rằng Israel đã phát triển loại tên lửa hành trình có tên Popeye Turbo có khả năng phóng đi từ những ống phóng này. Tên lửa Popeye Turbo có khả năng mang một đầu đạn hạt nhân nặng 200 kg và đạt được tầm bắn lên tới 1.500 km trong một cuộc thử nghiệm của Israel vào tháng 5/2000.

Tên lửa hành trình phóng từ tàu ngầm Popeye Turbo biến thể cải tiến của Israel có tầm bắn tới 1.500 km
Ngoài 3 chiếc Dolphin trên, Israel cũng đã đặt hàng Đức đóng thêm 3 chiếc Dolphin khác ứng dụng nhiều công nghệ mới so với những chiếc tàu ngầm cũ, trong đó có công nghệ động cơ hoạt động không cần tiếp khí AIP. Những chiếc tàu ngầm mới này dự tính sẽ phục vụ hải quân Israel trước năm 2015.

Xương sống chính của lực lượng tàu nổi Israel khá hạn chế, gồm 3 tàu hộ tống hạng nhẹ lớp Saar 5 và 10 tàu tấn công tên lửa Saar 4 và Saar 4.5.

Những chiếc Saar 5 có lượng giãn nước đầy tải đạt 1.227 tấn, vũ trang 8 tên lửa chống hạm Harpoon và tên lửa phòng không Barak cùng hệ thống CIWS Phalanx và ống phóng ngư lôi Mark 32.

Cả 3 tàu này đều đóng tại cảng Haifa, phía Bắc Israel trong biển Địa Trung Hải. 10 chiếc tàu tên lửa còn lại của Israel thuộc lớp Saar 4.5 cũng chỉ được trang bị tên lửa chống hạm Harpoon hoặc loại tên lửa chống hạm tầm ngắn nội địa của Israel là Gabriel có tầm bắn khoảng 36 km.

Xương sống của lực lượng tàu nổi Israel, tàu hộ vệ hạng nhẹ lớp Saar-5
Ngoài một số tàu tuần tiễu có chức năng bảo vệ bờ biển khác, lực lượng hải quân Israel cũng vận hành 2 máy bay vận tải C-130H và 26 chiếc trực thăng bao gồm trực thăng vận tải như Bell 212 và trực thăng săn ngầm AS-565SA, SA-366G.
Chỉ có một căn cứ hải quân duy nhất nằm trên bờ biển Đỏ là cảng Eilat, còn lại toàn bộ các căn cứ hải quân của Israel nằm trên bờ biển Địa Trung Hải tại các thành phố như Haifa, Tel Aviv.

Cùng với đội hình tàu chiến thiếu vắng các tàu có khả năng thực hiện nhiệm vụ dài ngày trên biển (ngoại trừ 3 tàu ngầm Dolphin có khả năng tấn công răn đe bằng tên lửa hành trình), Hải quân của Israel chỉ làm nhiệm vụ chính là phòng thủ.

Trong tương lai, nếu Israel phải tấn công phủ đầu Iran, khi so sánh với các binh chủng khác của nước này, hải quân sẽ là lực lượng sau cùng được huy động.

Máy bay chiến đấu F-15 của Israel đã có bề dày thành tích qua chiến tranh (mỗi dấu tròn được sơn trên thân máy bay tương ứng với một máy bay đối phương bị tiêu diệt)
Kfir, sản phẩm nội địa của Israel.
F-16I hiện đại nhất trong dòng F-16.
F-16I, tên lửa Derby, Python và bom JDAM.
Phi đội AH-64 Apache của Israel.
UAV Heron của Israel.
Phòng không - Không quân

Qua hàng loạt các cuộc chiến với sự tham gia tích cực của không quân từ năm 1967 cho tới nay, Israel đã xây dựng được một binh chủng không quân đông đảo, trang bị hiện đại và nhiều kinh nghiệm.

Hiện tại, Không quân Israel có tổng cộng 32.500 binh sĩ, trong đó có 22.000 lính nghĩa vụ (chủ yếu phục vụ trong các đơn vị phòng không). Ngoài ra, lực lượng này có tới 54.000 lính dự bị có thể điều động bất cứ lúc nào cần thiết.

Toàn bộ lực lượng này phục vụ tại 11 căn cứ không quân trải dài khắp đất nước. Ngoài các đội bay chiến đấu, Israel còn sở hữu một số đơn vị đặc biệt như đơn vị tác chiến điện tử số 555 “Sky Crow”, đội bay thử nghiệm tên lửa số 151, đơn vị đặc nhiệm số 5101 Shaldaq.

Xương sống của không quân Israel là khoảng 400 máy bay chiến đấu thuộc bốn loại chính: Máy bay chiến đấu đa nhiệm F-16, phục vụ trong quân đội Israel từ năm 1980. Chiếm ưu thế trên không là những chiếc máy bay chiến đấu hạng nặng hai động cơ F-15, được mua về từ năm 1976.

Israel cũng sử dụng loại máy bay cũ hơn là F-4 loại 2 chỗ ngồi cho một số nhiệm vụ đối không và tấn công mặt đất và một loại máy bay nội địa khác là Kfir, chế tạo theo thiết kế máy bay Mirage-III của Pháp từ năm 1975.

Trước đó, Israel cũng vận hành một số máy bay A-4 Skyhawk mà nước này nhận được từ năm 1966, tuy nhiên toàn bộ số máy bay này đã được thải hồi để thay thế bằng những loại lớn hơn.

Trong giai đoạn 1998 - 1999, Israel cũng đã mua thêm hai loại máy bay F-16I và F-15I là những biến thể hiện đại hóa.

Hiện tại Israel sở hữu 102 chiếc F-16I và 25 chiếc F-15I. Những chiếc máy bay này, nhất là F-16I đã được nâng cấp lên biến thể Block 52 gần như hiện đại nhất của không quân Mỹ, có khả năng mang được các loại bom thông minh cũng như tên lửa diệt phong không tầm xa JASSM.

>> F-16 và các biến thể

Trong tương lai, Israel tiếp tục đàm phán mua thêm loại máy bay thế hệ thứ 5 siêu hiện đại là F-35 của Mỹ. Nếu thương vụ này thành công, năm 2015 Israel có thể sở hữu thêm 25 máy bay F-35 JSF nữa.

Các phi đội máy bay chiến đấu của Israel cũng được hỗ trợ tối đa bởi những chiếc EC-707 Phalcon, loại máy bay cảnh báo sớm (AEW) được Israel tự chế tạo dựa trên máy bay Boeing 707 có khả năng vận hành vượt qua cả máy bay cảnh báo sớm E-2C mà Israel đã mua của Mỹ trước đó.

Nhằm đối phó với các nhóm du kích Hồi giáo và lực lượng thiết giáp của đối phương, Israel cũng trang bị một lực lượng đáng kể trực thăng vũ trang diệt tăng. Lực lượng này bao gồm 18 chiếc AH-64D Apache Longbow, 30 chiếc AH-64A Apache và 55 chiếc AH-1 thuộc hai biến thể E và F.

Thêm nữa, không thể không kể đến lực lượng UAV (thiết bị bay không người lái) của Israel. Trong những năm trở lại đây, Israel là một trong những nước phát triển UAV đi đầu trên thế giới để sử dụng trong nước và cả xuất khẩu ra nước ngoài.

Các sản phẩm UAV của Israel rất đa dạng: UAV tấn công tự sát như Harpy, UAV trinh sát, chỉ điểm  mục tiêu Scout, Heron, Hermes-450.

Ngoài một phần vũ khí nhập khẩu từ phương Tây, ngành công nghiệp quốc phòng phát triển rất mạnh của Israel cũng cung cấp được một lượng lớn vũ khí cho không quân nước này.

Các sản phẩm vũ khí của Israel đều có chất lượng cao và được chào đón nhiệt tình tại các thị trường nước ngoài. Tiêu biểu có thể kể đến như tên lửa không đối không tầm nhiệt Python đã được xuất khẩu đi châu Âu và Nam Mỹ (nguyên mẫu của tên lửa Python là Shafrir có hiệu suất tiêu diệt cực cao khi chỉ với 176 quả Shafrir-2, Không quân Israel đã hạ 89 máy bay đối phương trong cuộc chiến tranh Yom Kippur).

Để phục vụ cho mục đích đánh các trận địa phòng không và công trình được gia cố vững chắc, Israel cũng sở hữu loại bom thông minh JDAM, JDAM-ER (Extended Range - Tăng tầm) mua của Mỹ. Ngoài ra, các loại tên lửa không đối đất nội địa như Popeye-I, Popeye-II với đầu đạn nổ phá nặng 340 kg cũng là lựa chọn tốt cho những nhiệm vụ loại này.

Nhằm chống lại nguy cơ tấn công bằng tên lửa của đối phương, toàn bộ đất nước Israel cũng được bảo vệ bằng một hàng rào dày đặc các hệ thống phòng không hỗn hợp từ tầm thấp, tầm trung và tầm xa.

Chịu trách nhiệm phòng thủ chống tên lửa đạn đạo trong hệ thống này là các tên lửa phòng không tầm xa Arrow và biến thể hiện đại hơn là Arrow-2. Các tên lửa này được tin rằng có khả năng phòng thủ tên lửa tốt hơn cả hệ thống MIM-104 Patriot của Mỹ và đang được triển khai đại trà tại Israel sau các cuộc thử nghiệm thành công từ cuối những năm 1990 và đầu 2000.

Arrow là hệ thống phòng thủ tên lửa tầm xa có tầm bắn tới 148 km (Arrow-2), độ cao mục tiêu tối đa 60 km (vượt cả S-400 của Nga), và có tốc độ tên lửa đạt đến 2.500 m/s (Mach-9). Với các thông số này, Arrow có thể hạ gục hầu hết các tên lửa đạn đạo có tầm bắn dưới 3.000 km được phóng vào đất nước Israel.

Tên lửa phòng không tầm xa Arrow-2 của Israel đang khai hỏa.
Hệ thống phòng thủ chống lại đạn pháo phản lực và đạn cối Iron Dome nổi tiếng của Israel đã được cả Mỹ đặt mua
Hệ thống phòng thủ tên lửa tầm trung của Israel cũng được đầu tư thích đáng với tên lửa Barak-8 với chức năng tương tự như tên lửa hải đối không ESSM của hải quân Mỹ. Barak-8 có tầm bắn tới 70 km và có thể đối phóng với các mục tiêu tên lửa hành trình siêu âm tốc độ tới Mach 3 như tên lửa đối hạm Yakhont mà Syria có thể mua của Nga.

Lớp phòng thủ cuối cùng là hệ thống đã quá nổi tiếng của Israel có tên Iron Dome (vòm sắt). Với radar có độ nhạy cao cùng thời gian phản ứng siêu tốc, Iron Dome có thể ngăn chặn cả những quả đạn pháo phản lực hay đạn pháo cối được bắn từ lãnh thổ đối phương vào đất nước này.

Hiện Iron Dome là mô hình tên lửa tầm ngắn tiên tiến được nhiều nước quan tầm. Thậm chí, Nga cũng đang phát triển một hệ thống phòng không điểm tương tự Iron Dome có tên là Morfei.

>> Israel triển khai David's Sling từ 2012
>> Iron Dome chỉ đánh chặn trên 90% mục tiêu
>> Iron Dome lập chiến công

Binh sĩ Israel với mũ trùm vải Mitznefet đặc trưng.
Nam và nữ quân nhân bình đẳng.
Lục quân và các lực lượng đặc nhiệm

Trong Quân đội Israel, lực lượng có tần suất tham chiến không kém không quân là lục quân nước này. Liên tục được thử lửa trong các cuộc chiến tranh với Lebanon, Syria, 125.000 quân nhân lục quân Israel là một trong những lực lượng được huấn luyện tốt nhất thế giới.

Israel là một trong những nước có chế độ quân dịch chặt chẽ nhất toàn cầu. Các công dân Israel đủ 18 tuổi kể cả nam và nữ đều phải thực hiện nghĩa vụ quân sự. Thời gian phục vụ trong quân đội của những người này là 36 tháng đối với nam và 21 tháng đối với nữ. Hết thời gian phục vụ, những quân nhân này sẽ được giải ngũ nhưng họ có thể bị gọi lại bất kỳ lúc nào cho đến lúc 45 tuổi.

Bên cạnh đó, lục quân Israel cũng sở hữu một lượng khí tài khổng lồ, thậm chí là gấp nhiều lần những người hàng xóm rộng lớn xung quanh. Họ có trong tay 3.000 xe tăng chủ lực, hơn 10.000 xe bọc thép các loại, 600 pháo tự hành, 200 hệ thống pháo phản lực bắn loạt và khoảng 1.000 hệ thống pháo phòng không.

Xe thiết giáp Israel đang bắn tên lửa chống tăng Tamuz
Trong 3.000 chiếc xe tăng Israel đang sở hữu, 900 chiếc thuộc các loại Magach-6 và Magach-7 (biến thể của xe tăng M-60 của Mỹ được Israel cải tiến bằng cách lắp thêm giáp phản ứng nổ và hệ thống điều khiển bắn mới) và 1.800 chiếc thuộc dòng xe tăng Merkava các loại, trong đó số lượng loại xe tăng hiện đại nhất Merkava Mk4 là 300 chiếc.

Xe tăng Merkava Mk4 là một trong những loại xe tăng có chất lượng có thể coi là đứng đầu thế giới. Thiết kế của xe có nhiều đặc điểm ưu việt như vỏ giáp composite đa lớp, đạn pháo được chứa trong khoang chống cháy riêng tách rời khỏi tháp pháo, trang bị hệ thống phòng thủ chủ động (APS) Trophy tiên tiến, cơ cấu pha loãng khí thải giảm bức xạ hồng ngoại...

Đặc biệt, các dòng xe tăng Merkava có một đặc điểm mà không chiếc xe tăng nào có được là thiết kế động cơ ở phía trước với cửa thoát hiểm phía sau giúp lái xe dễ dàng thoát thân khi xe bị bắn hạ (so với xe tăng truyền thống thiết kế cửa thoát hiểm dạng nắp phía trên).

>> Xe tăng Israel gầm rú trên cao nguyên Golan
>> Pháo đài di động Merkava
>> 
Hóa phép cho Merkava MK-4 bất khả chiến bại

Thiết kế đặc biệt với cửa thoát hiểm đằng sau của xe tăng Merkava
Tuy nhiên, đóng vai trò chính nếu xung đột xảy ra giữa Israel và Iran sẽ không phải lực lượng lục quân hùng hậu trên mà chính là các lực lượng đặc nhiệm nổi tiếng của Israel.

Israel đã có truyền thống xây dựng lực lượng đặc nhiệm từ rất lâu, ngay từ khi lập nước năm 1948. Lực lượng đặc biệt đầu tiên nước này xây dựng là biệt đội Tzanhanim, đơn vị lính dù tinh nhuệ xây dựng vào tháng 6/1948 với nhiệm vụ thực hiện các nhiệm vụ quan trọng nhất.

Trong các cuộc xung đột quy mô nhỏ trong những năm 1950 giữa Israel và các nước Arab, không chỉ lính bộ binh bình thường, lực lượng Tzanhanim cũng chưa đủ kỹ năng để thực hiện các nhiệm vụ cần thiết, do đó, năm 1951, Israel thành lập tiếp đội 30 gồm những nhóm tác chiến nhỏ và được huấn luyện cực kỳ kỹ càng. Mặc dù vậy, với sự tiến triển của tình hình, tính chuyên nghiệp của đội 30 cũng vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu, do đó đội này bị giải tán năm 1952.

Ảnh chụp đội đặc nhiệm 101 của Israel năm 1955
Tháng 8/1953, Israel tiếp tục xây dựng một lực lượng tinh nhuệ khác có tên đội 101, chỉ huy bởi nguyên thủ tướng Ariel Sharon với vai trò thực hiện các nhiệm vụ khó khăn tại nước ngoài. Nòng cốt của đội đặc nhiệm này là 20 - 25 binh sĩ cực kỳ tinh nhuệ được tuyển chọn từ đội Tzanhanim và đội 30 trước kia.

Việc thành lập đội 101 là một mốc rất quan trọng của quân đội Israel khi xây dựng lực lượng đặc nhiệm chuyên nghiệp. Mặc dù vậy, đội 101 cũng không tồn tại lâu, sau vụ tấn công vào ngôi làng Qibya tại bờ Tây sông Jordan làm thiệt mạng 42 dân thường, đội này đã bị giải tán và sau đó hợp nhất với lực lượng Tzanhanim còn lại để tạo thành hai tiểu đoàn đặc nhiệm số 869 và số 101.

Không lâu sau đó, năm 1958, đội đặc nhiệm chính thức của Israel được thành lập với thành phần chính là các thành viên đã giầu kinh nghiệm từ đội 101. Đội đặc nhiệm này có tên là Sayeret MATKAL và có tổ chức, huấn luyện tương tự như đặc nhiệm SAS của Anh.

Đặc nhiệm Sayeret MATKAL của Israel ngày nay
Mặc dù có năng lực chống khủng bố rất kém khi mới thành lập, nhưng sau đó các đội đặc nhiệm của Israel đã tiến bộ rất nhanh và ngày nay họ là những người sở hữu kỹ năng chống khủng bố tiên tiến nhất. Các chiến công có thể kể đến của lực lượng này như ngăn chặn vụ khủng bố tại Olympics Munich 1972 hay giải cứu con tin Israel tại sân bay Entebe (Uganda) năm 1976.

>> Đặc nhiệm Israel giải cứu con tin năm 1976 (kỳ 1)
>> Đặc nhiệm Israel giải cứu con tin năm 1976 (kỳ 2)

Tuy nhiên, lực lượng đặc nhiệm Israel cũng gặp phải những thất bại, trong đó lớn nhất là thảm họa năm 1974 tại trường trung học Mahalot. Hoạt động giải cứu con tin bất thành tại trường trung học Mahalot, nơi 3 tên khủng bố bắt giữ học sinh ngôi trường này làm con tin đã dẫn tới cái chết của 21 học sinh và bốn nhân viên khác. Thậm chí, hai trong số các con tin bị giết đã bị trúng đạn của các lực lượng giải cứu.

Bên cạnh đặc nhiệm quân đội Sayeret, đội đặc nhiệm không quân 5101 Shaldaq  cũng không kém thành tích. Dù mới thành lập năm 1974 với quân số chỉ từ 40 - 50 người, nhưng Shaldaq có bề dày thành tích không kém các đội dặc nhiệm khác khác.  Năm 1991, đội Shadaq đã bảo vệ thành công 14.000 người Do Thái đào thoát an toàn khỏi thủ độ Addis Ababa của Somalia bằng đường hàng không.

Năm 2006, tại Baalbek, đội này đã bắt giữ thành công một lãnh đạo cấp cao của Hezbollah, giết 19 chiến binh Hezbollah khác trên đường trốn thoát mà không có tổn thất nhân mạng.

Gần đây nhất, năm 2007, đặc nhiệm Shaldaq đã đột nhập thành công vào một cơ sở hạt nhân ngầm dưới lòng đất của Syria và sau đó chỉ điểm thành công cho máy bay Israel ném bom hủy diệt cơ sở này.

Ngoài các đội đặc nhiệm đã nổi tiếng, Israel cũng sở hữu nhiều đội quân bí mật khác như Yamas, Duv Devan... và  một số dưới quyền cơ quan tình báo Mossad với rất nhiều “thành tích” ám sát lãnh đạo cấp cao của các tổ chức Hồi giáo cực đoan, các cựu sĩ quan phát xít Đức lẩn trốn tại Nam Mỹ hay các nhà khoa học hạt nhân của Iran.

Các thành viên của đội đặc nhiệm Yamas. Lực lượng này có vai trò chuyên giả trang, trà trộn vào các nhóm cực đoan người Arab để thu thập thông tin hoặc ám sát
Tên lửa đạn đạo

Israel gia nhập hàng ngũ các nước sở hữu tên lửa đạn đạo từ khá sớm. Năm 1962, với sự giúp đỡ của công ty Marcel-Dassault, Israel bắt đầu nghiên cứu chế tạo loại tên lửa đạn đạo đầu tiên của mình có tên Jericho-1.

Trong 16 cuộc thử nghiệm được tiến hành từ năm 1965 tới năm 1968, 10 lần đã thành công. Năm 1973, tên lửa Jericho-1 được đưa vào biên chế quân đội Israel đóng tại Zacharia, phía  Nam Tel Aviv.

Tầm "bao phủ" của các loại tên lửa Israel
Jericho-1 là loại tên lửa đạn đạo tầm ngắn (SRBM) mang đầu đạn thông thường nặng 450 kg hoặc một đầu đạn hạt nhân 20 kT. Tầm bắn của loại tên lửa này đạt 500 km, có thể dễ dàng tấn công thủ đô Cairo của Ai Cập hay Damascus của Syria nều cần thiết.

Tuy nhiên, độ chính xác của Jericho-1 khá nghèo nàn với mức CEP tới 1.000 m, chỉ tương đương các tên lửa Scud-B, do đó, Israel đã thải hồi loại tên lửa này để sử dụng các loại tên lửa mới hơn là Jericho-2 và Jericho-3

Tên lửa Jericho-3 được thử nghiệm đầu năm 2008
Tên lửa Jericho-2 cũng là loại tên lửa sử dụng nhiên liệu rắn sử dụng bệ phóng lưu động như Jericho-1. Việc nghiên cứu loại tên lửa này được tiến hành từ năm 1977 và bắt đầu hoàn thiện bắn thử năm 1986.

Năm 1990, Jericho-2 được đưa vào sử dụng và đóng quân chủ yếu cũng tại Zacharia cùng với Jericho-1. Jericho-2 có tầm bắn tới 1.400 km, có khả năng mang một đầu đạn thông thường nặng 1.000 kg hoặc một đầu đạn hạt nhân sức nổ 1.000 kT. 

Một số nước phương Tây tin rằng, với thiết kế của Jericho-2, Israel có thể dễ dàng nâng tầm tên lửa bằng cách giảm nhẹ khối lượng đầu nổ và tầm tối đa tên lửa này có thể đạt được sẽ lên tới 4.000 km, đủ sức tấn công tất cả các mục tiêu tại châu Âu và một phần Nga, Trung Quốc. Hiện nay, Israel sở hữu 90 tên lửa loại này.

Loại tên lửa mới nhất hiện đang được phát triển là tên lửa Jericho-3 với tầm bắn tối đa lên đến 6.500 km. Tên lửa này có khả năng mang một đầu đạn hạt nhân nặng 750 kg hoặc ba đầu đạn hạt nhân MIRV.

Với tầm xa và tốc độ của nó, Jericho-3 dễ dàng đánh phủ đầu tất cả các quốc gia thù địch trong khu vực và vượt qua mọi hàng phòng thủ tên lửa các nước này có thể tiếp cận.

>> Israel nâng tầm tên lửa đạn đạo

Có thể thấy, mô hình xây dựng quân đội Israel chủ yếu nhằm vào mục đích răn đe phủ đầu kết hợp với việc tấn công chính xác, đập tan đầu não quân địch ngay từ khi mới bắt đầu cuộc chiến.

Ngay cả khi đối thủ là một quốc gia lớn, có tiềm lực như Iran, việc Israel giành ưu thế cũng là điều có thể dự đoán trước.
Trước việc Iranthể sở hữu vũ khí hạt nhân vàlập trường đối đầu với Nhà nước Do Thái, các nhà phân tích đang xem xét đánh giá các kịch bản xung đột giữa 2 nước.
(ĐVO) Mối quan hệ giữa Israel và thế giới Hồi giáo Trung Đông chưa bao giờtốt sau 5 cuộc chiến lớn giữa Israel và các nước Arab cùng rất nhiều cuộc xung đột nhỏ khác.


Bằng sức mạnh quân sự đáng nể, sự hậu thuẫn của Mỹ và phương Tây kết hợp với chiến lược ngoại giao khôn khéo, Israel đã ký được những thỏa ước hòa bình tạm thời với những người láng giềng như Ai Cập, Lebanon, Syria, Jordan qua đó chung sống hòa bình với các đồng minh Arab của Mỹ như Arab Saudi, Qatar, UAE...


Tuy nhiên, với tiềm lực quân sự ngày càng phát triển mạnh mẽ của Iran, thế cân bằng này đang dần bị lung lay, dự báo trước một đợt bất ổn mới cho khu vực.


Với câu trích dẫn từ giáo chủ Khomeini cho rằng: “Thể chế đang chiếm đóng Jerusalem phải bị loại bỏ”, Tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad đã đặt Israel trên đống lửa khi nước này càng ngày càng phát triển mạnh về quân sự cùng với khả năng sở hữu tên lửa đạn đạo mang đầu đạn hạt nhân.


Về phần Israel, với câu khẩu hiệu nổi tiếng: “Nếu người Hồi giáo Arab từ bỏ vũ khí, sẽ không còn bạo lực - Nếu người Israel từ bỏ vũ khí, sẽ không còn Israel”, chắc chắn nước này sẽ không chịu ngồi yên nhìn Iran từ từ “kề dao vào cổ” mình.

Cuộc chiến tranh giữa Israel và Lebanon năm 2006 cho thấy hòa bình giữa Israel và các nước Arab trong khu vực còn quá mong manh
Năm 2007, diễn biến chính trị khu vực diễn ra tương tự những sự kiện gần đây. Sau khi Syria từ chối hợp tác toàn diện với thanh sát viên IAEA, tổ chức này đã đưa ra một bản báo cáo không chính thức cho rằng Syria đang thực hiện các hoạt động trái phép về năng lượng nguyên tử. (Tháng 4/2011, IAEA đã chính thức xác nhận vị trí nàymột cơ sở hạt nhân).

Ngay sau đó, phi đội 69 “Hammer” của Israel với các máy bay F-15I, F-16I đã tấn công phá sập hoàn toàn cơ sở này dưới sự hỗ trợ chỉ điểm mục tiêu của đặc nhiệm không quân Shaldaq và đặc nhiệm lục quân Sayeret Matkal.

Về phía Syria, họ đã không kịp thực hiện bất cứ hành động nào đáp trả vụ tấn công này và kết quả cơ sở này đã bị phá hủy hoàn toàn.

Theo Bloomberg, khoảng 10 nhân viên hạt nhân của Triều Tiên cũng đã bị thiệt mạng trong cuộc không kích.

Chiến dịch Orchard của Israel nhằm phá hủy một cơ sở hạt nhân của Syria đã thành công trọn vẹn.
Đối với Iran, một đất nước vị trí địa lý khá xa Israel và một lực lượng quân đội đông đảo, việc tấn công bằng hải quân hay bộ binh tổng lựcđiều bất khả thi. Vì thế, sử dụng đặc nhiệm, không kích và bắn tên lửa là tất cả các khả năng mà Israelthể tính đến.

Không kích Iran

Đối với một đất nước tiềm lực quân sự mạnh và quá rộng lớn như Iran (diện tích đến 1,6 triệu km2, gấp gần 80 lần Israel), việc tấn công tổng lực, không kích phá hủy hoàn toàn các cơ sở quân sự của Iran chắc chắnđiều không tưởng. Chính vì thế, nếu lựa chọn phương án không kích, Israel chỉthể chọn những mục tiêu giá trị nhất: các cơ sở hạt nhânkhả năngm giàu uran và chế tạo đầu đạn nguyên tử.

Tuy nhiên, việc không kích Iran lại không hề đơn giản như điều Israel đã từngm với Syria.

Thứ nhất, về địa hình, Syria giáp biên giới phía Bắc với Israel, việc bay qua đường biên giới, chế áp phòng không Syria và tấn công mục tiêu cần thiết ở khoảng cách chỉ vài trăm kmđiều đơn giản. Tuy nhiên, đối với Iran, Israel sẽ phải “mượn” không phận của rất nhiều nước, thậm chí bắt buộc phải tiếp dầu trên không tại không phận những nước Arab này, vốn sẵnquan hệ “cơm chẳngnh, canh chẳng ngọt” đối với nhà nước Do Thái.

Thêm nữa, khoảng cách từ Israel tới các cơ sở quân sự Iranquá lớn đối với các máy bay mang bom: Từ Hadera (Haifa, Israel) tới nhà máym giàu uranium tại Natanz, đường bay thẳng dài tới 1.400 km, thậm chí tới căn cứ Esfahal , khoảng cách này lên tới 1.538 km.

Các con đườngthể tấn công Iran của Israel đềucự ly từ 1.500 km - 2.400 km và vi phạm không phận nhiều nước Arab
Trên thực tế, Israel khóthể bay thẳng tới Iran do các lý do ngoại giao. Để tấn công Iran, Israel chỉthể tấn công với ba đường:

Thứ nhất, từ Haifa, bay men theo bờ biển của Lebanon, sau đó bay bám theo biên giới Syria, mượn không phận Thổ Nhĩ Kỳ và tấn công các căn cứ phía Bắc của Iran như thủ đô Tehran, cơ sởm giàu uranium bí mật tại Qom ở khoảng cách trên 2.000 km. Tuy nhiên, những diễn biến mới gần đây trong quan hệ giữa Israel và Thổ Nhĩ Kỳthể khiến kịch bản này bất khả thi.

Bản đồ các căn cứ không quân và bố trí máy bay của Israel
Con đường thứ hai, máy bay từ cảng Tel Aviv, bay qua không phận Palestin, Jordan, một phần Iraq, Israelthể dễ dàng tấn công cơ sở hạt nhân Arak và nhà máym giàu urani Natanz.

Đâymột trong những mục tiêu quan trọng nhất vì Iran đãm giàu urani lên tới mức 20% ở nhà máy này, một bước tiến rất quan trọng để sau đóm giàu urani tới 90% phục vụ vũ khí hạt nhân (urani trong nhiên liệu lò phản ứng nước nhẹ chỉ cầnm giàu đến mức 3-4% còn đểm nhiên liệu lò phản ứng hạt nhân nước nặng thì không cần thiết phảim giàu). Đây cũngcon đường ngắn nhất vì hầu hết các chặngbay thẳng với khoảng cách đến Natanz dưới 1.500 km.
Tuy vậy, để bay qua được con đường này, Israel cũng phải giải quyết nhiều vấn đề. Thỏa ước hòa bình mong manh của Israel với Jordan, Arab Saudi sẽ khóthể tồn tại được nếu máy bay chiến đấu Israel bay qua không phận của các nước này, nhấttrong bối cảnh Mỹ, đồng minhtiếng nói của Arab Saudi tuyên bố không giúp đỡ Israel nếu nhà nước Do Thái đơn phương thực hiện cuộc tấn công.

Con đường thứ ba cho phép máy bay Israel bay xuống biển Đỏ, sau đó lần lượt bay qua không phận Arab Saudi, Iraq và cuối cùngtấn công nhà máy điện hạt nhân Busher nằm trên bờ vịnh Persian. Khó khăn của Israel khi sử dụng con đường này cũng tương tự như sử dụng con đường thứ hai.

Bom GBU-28thể khoan sâu tới 6 m bê tông trước khi phát nổ
Với khoảng cách xa như vậy, chắc chắn Israel sẽ sử dụng các máy bay F-15I (biến thể dành riêng cho Israel) của máy bay tấn công F-15E Strike Eagletầm bay xa nhất trong số các máy bay chiến đấu của nước này.

Tuy nhiên, nếu F-15I mang đầy đủ vũ khí (bom khoan hầm, tên lửa không đối không Python) thực hiện chuyến bay dài 1.500 km sẽ phải thực hiện tiếp dầu trên không, nhiều khả năng ở bầu trời Iraq, khi nước này còn nằm trong sự chiếm đóng của Mỹ.

Ngoài ra, để hộ tống F-15I phải cần tới các tiêm kích F-16 tuy không quá hiện đại nhưng rất đông đảo của Israel.

Để tấn công những cơ sở hạt nhân nằm sâu dưới lòng đất của Iran (ví dụ nhà máym giàu uranium tại Natanz nằm sâu 8 m dưới đất và bọc trong lớp bê tông cốt thép dày 2,5 m), Israel bắt buộc phải sử dụng những loại bom khoan hầm hạng nặng như loại bom nặng gần hai tấn GBU-28 sử dụng đầu khoan BLU-113khả năng khoan sâu 6 m bê tông hoặc 30 m đất.

Thế nhưng, dù Israelkhả năng đàm phán để bay qua không phận các nước Arab, mang được bom khoan hầm đến Iran, vượt qua lực lượng không quân và tên lửa nước này thì việc ném được bom vào các cơ sở hạt nhân Iran vẫn còn rất nhiều khó khăn.

Bản đồ bố trí các hệ thống radar cảnh báo của Iran
Iranrất nhiều hệ thống radar cảnh báo đặt dọc bờ biển vịnh Persian, biên giới với Iraq và Thổ Nhĩ Kỳ, trong đóloại radar Ghadir nội địakhả năng phát hiện mục tiêu xa tới 1.000 km.

Thậm chí, năm 2010, thiếu tướng Amir-Hamid Arjangi, chỉ huy căn cứ không quân Khatamolanbia còn khẳng định nước này đang sản xuất loại radar mớitầm phát hiện mục tiêu xa tới 3.000 km, nghĩathể phát hiện được các máy bay Israel khi chúng vừa cất cánh.

Tầm bảo vệ của các loại tên lửa SA-5, Hawk và Hồng Kỳ - 2 của Iran

Sơ đồ bố trí hệ thống phòng không tại cơ sở hạt nhân Esfahan
Tại nhà máy điện hạt nhân Busher
Tại cơ sởm giàu uranium Natanz
Tại lò phản ứng hạt nhân nước nặng Arak
Về vũ khí, Iran sở hữu loại tên lửa phòng không tầm xa SA-5 Gammontầm bắn tới 250 km. Dù cho Mỹ  và Israel đã quá quen với loại tên lửa này và dễ dàng chế áp (như cách phương Tây đãm khi tấn công Libya và Iraq) nhưng với năng lực quốc phòng và khả năng cải tiến vũ khí của Iran thì đây cũngloại tên lửa rất đáng gờm.

Một mũi nhọn phòng không khác của Iran chínhloại tên lửa tầm xangoại hình giống với S-300 mà nước này đã công bố đã tự sản xuất được. Nếu như loại tên lửa nàythật thì mối nguy đối với các máy bay của Israel còn tăng lên gấp bội.

Thêm nữa, với các dàn tên lửa phòng không tầm ngắn Tor-M1,khả năng phát hiện các mục tiêu với tiết diện phản xạ radar tới 0,1 m2, Iran cònthể bắn hạ các tên lửa diệt radar hay bom lượn của Israel  trước khi chúng kịp chạm đất.

Cũng không thể không kể đến các hệ thống pháo phòng không - tên lửa tầm ngắn dày đặc của Iran xung quanh các cơ sở hạt nhân. Tại những địa điểm này, trận địa phòng không dày đặc, nhiều tầng được xây dựng với nhiều loại vũ khí như pháo phòng không 100 mm Iran tự sản xuất theo pháo KS-19 của Ngatầm bắn tới 21 km; hệ thống phòng không Skyguard với pháo 35 mm bắn bằng radar tầm bắn 4 km, pháo 23 mm - 2,5 km và súng máy 12,7 mm sẽ trám nốt chỗ trống còn lại. Cùng với các loại tên lửa tầm nhiệt khác như RBS-70, ngay cả việc máy bay hay tên lửa hành trình bay cực thấp cũng khóthể lọt qua.

Đặc biệt, Iran còn phát triển thêm hệ thống pháo phòng không 23 mm Meshbar gồm 8 nòng pháo,thể đạt tốc độ bắn tới 4.000 phát/phút, điều khiển bằng hệ thống ngắm quang điện tử và radar, hoàn toànthể đóng vai trò như hệ thống C-RAM (Counter Rocket, Artillery, Mortar - Vũ khí đánh chặn đạn rocket, pháo và cối) của Mỹ.

Chính vì những lý do trên, một nguồn tin của Israel đã dự đoán muốn phá hủy được các cơ sở hạt nhân của Iran, ít nhất Israel phải trả giá bằng 1/3 lực lượng không quân của mình.

Với một dân tộc coi trọng sinh mạng binh lính như Israel, chắc chắn đây không phảimột giải pháp được ưa thích.

Pháo 23 mm 8 nòng Meshbartốc độ bắn tới 4.000 phát/phútthể được sử dụng như một vũ khí chống lại các loại bom và tên lửa hành trình
Sử dụng lực lượng đặc nhiệm

Trên thực tế, Iran cũng không phải một nước ổn định về chính trị. Nhà nước Hồi giáo Shiite của Iran chưa bao giờm hài lòng những bộ tộc Hồi giáo Sunni sống ở phía Bắc.

Chính vì thế, năm 2009 đã xảy ra một vụ đánh bom đẫm máu do nhóm vũ trang Hồi giáo Sunny Jundallah gây ram 31 người thiệt mạng, trong đó2 vị tướng trong Quân đội Iran.

Vì nguyên nhân này, việc cử những lực lượng đặc nhiệm nhỏ, tinh nhuệ đột nhập vào Iranvẻ đơn giản hơn với Israel. Trên thực tế, đãkhá nhiều vụ đặt bom hay bắn súng giết chết các nhà khoa học hạt nhân Iran bị tình nghibàn tay của Israel dính líu. (>> xem thêm)

Hiện cũnghai cách để các lực lượng đặc nhiệm Israelthể dùng để đánh phá tiềm lực quân sự của Iran.

Thứ nhất, họthể kích động các bộ tộc Hồi giáo Sunni nổi dậy chống lại nhà nước Iran, qua đó giúp sức về nhân lực và vũ khí cho các nhóm này giành lợi thế trước chính quyền tương tự những điều đã diễn ra ở Libya từ tháng 4 -10/2011.

Tuy nhiên, cần nhớ rằng, bộ phận dân cư theo Hồi giáo Sunni quá ít so với cả dân số Iran và quân đội Iran cũng chuyên nghiệp hơn đội quân của ông Gaddafi rất nhiều.

Một máy bay Mỹ bị bắn cháy trong chiến dịch Eagle Claw
Thứ hai, chắc chắn lực lượng an ninh của Iran đã tính đến khả năng này và đã tăng cường an ninh cho các cơ sở hạt nhân và quân sự đến mức tối đa. Với khoảng cách xa, khôngyếu tố bất ngờ, rất khó cho lực lượng Israelthể tấn công.

Hơn thế nữa, lực lượng an ninh Iran cũng không phải khôngkinh nghiệm trong việc chống biệt kích đối phương đột nhập, phá hoại.

Ngày 25/4, trong chiến dịch Eagle Claw, Mỹ đã sử dụng 9 chiếc trực thăng RH-53D và 6 chiếc máy bay vận tải C-130 Hercules nhằm giải cứu 52 con tincông dân Mỹ đang bị giam giữ trong Đại sứ quán Mỹ tại Tehran. Tuy nhiên, chiến dịch này của Mỹ đã kết thúc với kết quả thảm hại khi họ không giải cứu được các con tin và để mất 6 trực thăng, một máy bay C-130, 8 binh sĩ thiệt mạng, 4 người khác bị thương.

Lực lượng đặc nhiệm Iran cũngđối thủ khó nhằn đối với biệt kích Israel
Hơn thế nữa, Irantrong tay khá nhiều cơ sở hạt nhân trải dài trên một diện tích rộng (Cơ sở hạt nhân Arak nằm cách nhà máy điện Busher tới gần 2.000 km) trong khi đặc nhiệm Israel chỉtrong tay một lực lượng hạn chế, việc phá hoại tất cả những cơ sở này trong thời gian ngắnkhông thể thực hiện được.

Chính vì vậy, nếu được sử dụng trong cuộc chiến chống Iran, Israel chỉthể đóng vai trò hỗ trợ thông tin, chỉ điểm mục tiêu cho không quân oanh kích hơnđóng vai trò chủ đạo đột nhập, phá hoại.

Tấn công bằng tên lửa

Đâythể coiphương án tấn công đơn giản nhất và ít thiệt hại nhất nếu Israel chọn tấn công phủ đầu. Để vươn tới các cơ sở hạt nhân nằm sâu trong nội địa Iran, Israeltrong tay khoảng 30 tên lửa đạn đạo Jericho-III tầm bắn 6.500 km hoặc các tên lửa hành trình Popeye Turbo phóng từ tàu ngầm Dolphin.

Tên lửa Jericho-III của Israelthể dễ dàng vươn tới các cơ sở hạt nhân của Iran
Tuy vậy, trên thực tế nếu sử dụng đầu đạn thuốc nổ thông thường, số tên lửa trên khóthể đánh gục ngay tiềm lực hạt nhân của Iran do hầu hết các cơ sở hạt nhân nước này đều nằm sâu trong các boongke bê tông kiên cố.

Thậm chí, Israelthể chịu thiệt hại nặng nề khi Iran trả đũa bằng các loại tên lửatầm bắn trên 2.000 km của nước này như Shahab-3, Sajjin. Với diện tích và dân số hạn chế, nếu để điều này xảy ra, Israel sẽthể bị thiệt hại đến mức không thể khôi phục được.

Nếu sử dụng đầu đạn hạt nhân (thông tin không chính thống dự đoán Israeltrong tay khoảng 200 đầu đạn hạt nhân), Israel chưa thể xóa sổ ngay toàn bộ lực lượng vũ trang Iran, hơn thế, lúc đó Israel sẽ mất đi hoàn toàn sự ủng hộ của cộng đồng thế giới, ngay cả với các đồng minh khi đơn phương tấn công một quốc gia khác bằng vũ khí hạt nhân.

Cùng lúc đó, Israel sẽ hứng chịu sự trả thù khốc liệt hoàn toànthể dự báo trước của thế giới Hồi giáo, và đâykết cục nhà nước Do Thái chắc chắn không mong muốn.
Iran cũng có thể đáp trả bằng tên lửa Shahab-3, dù sẽ khó khăn hơn vì phải vượt qua các hệ thống Arrow của Israel
Tựu chung, Israel gần như không thể tấn công phủ đầu đánh gục tiềm lực hạt nhân của Iran mà khôngMỹ và phương Tây giúp sức trong điều kiện hiện nay. Với khoảng cách địa lý xa và tiềm lực quân sự không hề yếu, Iran quá dễ xoay sở khi đứng vào vai trò phòng thủ và Israel quá khó khăn trong vai trò tấn công.

Chính vì thế, lựa chọn tốt nhất của Israel bây giờ một mặtdùng lực lượng tình báo hiệu quả cao, ngấm ngầm phá hoại,m suy yếu khả năng hạt nhân của Iran (ám sát, thả virus tương tự như vụ virus Stuxnet phá hoại các máy tính điều khiển trong cơ sở hạt nhân), một mặt vận động được Mỹ và đồng minh phương Tây tiến hành hợp sức cùng tấn công hoặc chí ít tiếp tục đặt gánh nặng trừng phạt lên Tehran.

Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay khi Mỹ còn phải đối mặt với nhiều mối quan tâm hơn tại các chiến trường Iraq, Afghanistan, lợi ích ở châu Á - Thái Bình Dương, còn Tây Âu còn vật lộn với khủng hoảng kinh tế, nếu muốn chắc thắng, chắc chắn Israel sẽ tiếp tục phải “nhẫn nhịn” thêm một thời gian nữa.
Đồng Tâm (tổng hợp)

Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2011

ĐỌC BÁO NGA NÓI VỀ BIỂN ĐÔNG

Báo Nga: Trung Quốc đang đẩy ASEAN vào vòng tay Mỹ

Email In PDF.
Sự hung hăng, ngang ngược của Trung Quốc đang khiến các bên tranh chấp Biển Đông hết sức lo ngại. Tập hợp liên minh ASEAN, tìm đối trọng cân bằng sức mạnh sẽ là một trong những chính sách mà các quốc gia tranh chấp với Trung Quốc lựa chọn.
Hà Nội đưa ra tuyên bố kháng nghị mạnh mẽ đối với Bắc Kinh về vụ các tàu tuần tra của Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam tại vùng Biển Đông. Theo thông báo ngày 30/5 của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam, tàu hải giám Trung Quốc đã tiến sát gần tàu nghiên cứu của Việt Nam đang tiến hành công tác khảo sát tình trạng địa chấn trên bề mặt đáy biển. Các binh sĩ Trung Quốc đã phá những thiết bị nghiên cứu, cắt đứt dây cáp nối tàu Việt Nam với các thiết bị khảo sát đáy biển
Vấn đề các đảo tranh chấp Biển Đông luôn là yếu tố gây bất ổn nghiêm trọng trong khu vực. Cách đây chưa lâu, Philíppin và sau đó là Việt Nam đã gửi Liên hợp quốc công hàm chính thức, khẳng định chủ quyền của nước mình đối với quần đảo Trường Sa. Đó là phản ứng trước việc Bắc Kinh công bố vùng lợi ích của họ bao trùm gần như toàn bộ lãnh thổ vùng biển Đông có trữ lượng dầu khí dồi dào và tài nguyên sinh vật biển rất phong phú. Manila có động thái trên sau khi các tàu hải quân Trung Quốc uy hiếp tàu của Philippin đang tiến hành thăm dò dầu khí trong khu vực tranh chấp
Bắc Kinh không tỏ thái độ gì trước phản đối chính thức của Philíppin và mấy ngày sau công bố lệnh cấm đánh cá tại một số khu vực vùng biển có những quần đảo tranh chấp. Hà Nội không chấp nhận lệnh cấm này và xem văn bản như là sự vi phạm trắng trợn tới toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và chủ quyền của quốc gia trên các quần đảo và đặc khu kinh tế biển độc quyền xung quanh.
Các nước trong khu vực đang cố gắng giảm độ gay gắt của vấn đề. Năm 2002, ASEAN và Trung Quốc đã ký Tuyên bố về cách ứng xử trong vùng biển Đông, theo đó quy định về sự sẵn sàng từ bỏ đối đầu và giải quyết vấn đề quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa thuần túy bằng con đường ngoại giao. Văn kiện ghi nhận sự cần thiết hoạch định một cơ chế giải quyết tranh chấp lãnh thổ, để quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cũng như các vùng biển xung quanh trở thành “khu vực của hòa bình và hợp tác”.
Ông Vasily Mikheev, Phó Giám đốc Viện Kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế, cho rằng cuộc tranh chấp xung quanh các quần đảo trên Biển Đông cần và có thể giải quyết bằng nỗ lực của tất cả các bên liên quan. Ông Mikheev nói: “Trung Quốc và ASEAN đã có thỏa thuận cơ bản về cùng chung sử dụng các quần đảo này, về việc tại đây là khu vực phi hạt nhân, khu vực hòa bình... Đó là Tuyên bố về cách ứng xử ở Biển Đông. Nhưng thỏa thuận này mang tính chất văn kiện khung, chỉ xác định những nguyên tắc quan hệ cơ bản. Nhiệm vụ giờ đây là phải làm thế nào để biến thỏa thuận này thành cơ chế hành động thực tiễn, không chia rẽ mà liên kết các quốc gia lại với nhau. Xét trên những tác động tiêu cực thể hiện qua tất cả các động thái ngoại giao thời gian gần đây, tôi cho rằng rằng ban lãnh đạo các nước tuyên bố tham vọng chủ quyền với các quần đảo này cần suy nghĩ kỹ lưỡng, có thái độ tiếp cận nghiêm túc hơn với vấn đề, để biến thỏa thuận khung thành những bước đi thực tế”. 
Tuy nhiên, hiện Trung Quốc tỏ ra không vội gì tuân thủ tinh thần và văn bản của Tuyên bố. Các tàu hải giám Trung Quốc tiến hành tuần tra vùng biển quần đảo Hoàng Sa, chiếm tàu đánh cá của Việt Nam và lấy đi các thiết bị đánh bắt hải sản của ngư dân Việt Nam. Bằng hành động cứng rắn ngang nhiên của mình, Trung Quốc thực sự đang buộc các nước láng giềng phải tìm kiếm một đối trọng để cân bằng với thế lực ngày càng tăng của Bắc Kinh trong khu vực. Trong cuộc tìm kiếm đó, các nước ASEAN đang thể hiện mong muốn Mỹ không chỉ duy trì mà còn tăng thêm sự hiện diện tại khu vực. Nguyện vọng đó hiển nhiên được Oasinhtơn hoan nghênh. Năm ngoái, tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN ở Hà Nội, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã nói nước Mỹ có “lợi ích quốc gia đối với tự do hàng hải và sự tôn trọng pháp quyền quốc tế tại khu vực Biển Đông”.
ASEAN hy vọng rằng đến năm 2012, mốc đánh dấu 45 năm thành lập tổ chức - sẽ ký kết được Quy tắc ứng xử ở Biển Đông. Luật phải mang tính bắt buộc đối với tất cả các quốc gia trong khu vực. Nếu mục tiêu này trở thành hiện thực, thì Biển Đông sẽ có thể trở thành một khu vực của hòa bình và hợp tác.
Theo Đài Tiếng nói nước Nga
Trần Quang (gt)

BÁO CHÍ TRUNG QUỐC VIẾT VỀ BIỂN ĐÔNG

Bài viết “Trung Quốc sử dụng vũ lực giải quyết vấn đề Biển Đông, nước nào là đối tượng đầu tiên?” trên mạng “Quân sự Thiên Thiên” của Trung Quốc phân tích về sự lựa chọn đối thủ trong trường hợp Trung Quốc quyết định dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Trường Sa.
Tại Biển Đông, để đạt được mục đích chung sống hoà bình, Chính phủ Trung Quốc đã ký với các quốc gia Đông Nam Á văn kiện “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” vào ngày 4/11/2002. “Tuyên bố” nhấn mạnh thông qua đàm phán, hiệp thương hữu nghị, lấy phương phức hoà bình giải quyết những tranh chấp liên quan tại Biển Đông, trước khi giải quyết tranh chấp, các bên cam kết giữ kiềm chế, không áp dụng các hành động khiến tranh chấp trở nên phức tạp và mở rộng. Văn kiện này có ý nghĩa tích cực quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích chủ quyền của Trung Quốc, duy trì hoà bình, ổn định tại khu vực Biển Đông, tăng cường lòng tin giữa Trung Quốc và ASEAN. 
Việt Nam có những biểu hiện nào khi xâm chiếm các đảo ở Biển Đông? 
Việt Nam chiếm giữ 29 đảo trên quần đảo Trường Sa, là nước chiếm nhiều đảo nhất. Để chiếm giữ hữu hiệu các đảo này, Việt Nam đã áp dụng sách lược nói ít làm nhiều. Nhằm tránh xảy ra xung đột với Trung Quốc, Việt Nam xâm chiếm một cách lặng lẽ, sau khi tạo sự thật đã rồi mới tuyên bố có chủ quyền đối với các đảo này. Nhưng Việt Nam cũng ngại đụng chạm tới “giới hạn cuối cùng” của Trung Quốc, sợ một lần nữa vấp phải cuộc tấn công đến từ quân đội Trung Quốc, Việt Nam bắt đầu học bài “hỗ trợ từ nước ngoài” nhằm đạt được mục đích “lấy yếu thắng mạnh”. 
Tháng 7/2008, Việt Nam ký hiệp định thăm dò dầu khí với một công ty nước ngoài. Theo “Báo Hoa Nam buổi sáng” (Hồng Công) khi đó đưa tin, Việt Nam và tập đoàn Exxon Mobil (Mỹ) đạt được một hiệp định về hợp tác thăm dò dầu khí, trong đó địa điểm thăm dò lại nằm trong khu vực lãnh hải tranh chấp Trung-Việt trên Biển Đông.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lưu Kiến Siêu ngày 22/7/2008 tuyên bố, Chính phủ Trung Quốc cho rằng hành động này là hành vi xâm phạm chủ quyền Trung Quốc của Chính phủ Việt Nam, bày tỏ sự phản đối mạnh mẽ đồng thời đưa ra giao thiệp nghiêm khắc; hơn nữa, yêu cầu tập đoàn Exxon Mobil chấm dứt thực hiện hiệp định này. Tuy nhiên, Exxon Mobil lại cho rằng Việt Nam có chủ quyền đối với các khu vực thăm dò tương ứng. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Dũng trong khi trả lời phóng viên “Báo Hoa Nam buổi sáng” của Hồng Công, đã nói: Hiệp định ký kết với Exxon Mobil thuộc chủ quyền quốc gia Việt Nam, nước khác không có quyền can thiệp. 
Đây không phải là lần đầu tiên Việt Nam không thương lượng với Trung Quốc, tự thăm dò tài nguyên dầu khí trong khu vực biển tranh chấp, Việt Nam đã phân chia hàng trăm khu vực thăm dò, khai thác dầu khí trên vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa để mời thầu trên toàn cầu. Trong những năm gần đây, các tập đoàn dầu khí của Mỹ, Nga, Pháp, Anh, Đức đều ký với Việt Nam một loạt hợp đồng thăm dò, khai thác dầu khí tại Biển Đông, Việt Nam đã nhuộm màu sắc quốc tế cho vấn đề tranh chấp Biển Đông. Tháng 4/2007, Việt Nam khởi động kế hoạch phát triển mỏ khí và đường ống dẫn khí thiên nhiên trong vùng biển tranh chấp Trường Sa với tập đoàn dầu mỏ BP của Anh, gặp sự phản đối kiên quyết của Chính phủ Trung Quốc, buộc BP phải thay đổi kế hoạch.
Vì gác tranh chấp, Trung Quốc vẫn chưa khai thác nổi một thùng dầu tại khu vực tranh chấp. Trong khi đó, tính đến nay Việt Nam đã khai thác gần 100 triệu tấn dầu thô, 1,5 tỷ m3 khí từ các giềng dầu ở khu vực Trường Sa, thu lợi hơn 25 tỷ USD. Sản lượng dầu mỏ khai thác hàng năm tại Biển Đông đạt từ 50 - 60 triệu tấn, trong đó sản lượng dầu mỏ tại khu vực tranh chấp Trung-Việt đạt khoảng 8 triệu tấn, chiếm tỷ trọng tương đối trong tổng sản lượng khai thác dầu mỏ hàng năm của Việt Nam là 30 triệu tấn. Để chiếm đóng vĩnh viễn các đảo, Việt Nam không ngại tổ chức cái gọi là diễn tập quân sự liên hợp với Mỹ nhằm vào Trung Quốc, với lại hai nước Trung-Việt vẫn đang trong quá trình đàm phán, thái độ bắt đầu thay đổi. Hành động này gặp phải sự phản đối của Trung Quốc, gây ra tình trạng căng thẳng hơn nữa trong quan hệ hai nước. 
Trung Quốc nên chăng tấn công quân sự đối với Việt Nam ? 
Nếu quân đội Trung Quốc giải quyết tranh chấp Biển Đông bằng vũ lực, phải tiến hành điều tra dân ý về vấn đề “đánh ai trước”, chắc chắn trên 80% dân chúng Trung Quốc đều hô to một tên - Việt Nam. Dựa vào thực lực quân sự của Trung Quốc hiện nay có thể khẳng định rằng, nếu hải quân hai nước Trung-Việt xảy ra chiến tranh tại quần đảo Hoàng Sa hoặc quần đảo Trường Sa, quân đội Việt Nam chỉ có thể chống đỡ, không có sức đánh trả, cuối cùng phải chịu thất bại, quân đội Trung Quốc khẳng định sẽ giành chiến thắng gọn gàng, triệt để. Với thực lực quốc gia và thực lực quân đội hiện nay của Việt Nam căn bản không chịu nổi một trận đánh của Trung Quốc. Mặc dù, tác giả bài viết này nhất trí với đánh giá của đa số người dân Trung Quốc, nhưng mặt khác tác giả cũng tán thành với một bộ phận có quan điểm nhìn xa trông rộng, không chủ trương tiến đánh Việt Nam ngay lập tức, vậy vì sao?
Tác giả bài viết cho rằng trong một thời gian dài kiên trì theo dõi các chương trình quân sự trên truyền hình và trên các phương tiện truyền thông khác, lắng nghe các chuyên gia quân sự đánh giá về tình hình Biển Đông và trong các cuốn sách chuyên đề cũng như các bài bình luận trên mạng của các chuyên gia quân sự, cũng đọc thấy nhiều bài viết và ý kiến về chủ trương không tiến đánh Việt Nam trước, tác giả có cùng một quan điểm với chủ trương này: Trung Quốc giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông, mục tiêu tiến đánh đầu tiên không nên là Việt Nam, và không chủ trương lập tức khai chiến với Việt Nam, một khi Trung Quốc khai chiến với Việt Nam sẽ tạo ra nhiều hậu quả, trong đó có 4 điểm vô cùng bất lợi cho Trung Quốc:
Một là, hiện nay Việt Nam có thể nói đang trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, từ sau Chiến tranh Lạnh, Việt Nam bắt đầu mất dần ký ức chiến tranh, mặc dù trong những năm gần đây họ giơ cành ô liu với người Mỹ, nhưng lịch sử thảm khốc của cuộc Chiến tranh Việt Nam và hình thái ý thức của Đảng Cộng sản Việt Nam, khiến Mỹ băn khoăn lo lắng, huống hồ người Mỹ cũng biết rất rõ, người Việt Nam chẳng qua là muốn hàng không mẫu hạm của Mỹ đến để kiềm chế và hù dọa Trung Quốc mà thôi. Nếu Trung Quốc đánh Việt Nam, người Việt Nam sẽ kêu gọi sự bảo vệ của Mỹ, Nhật Bản, cung cấp căn cứ quân sự cho Mỹ, Nhật, như vậy tuyệt đối không phải là một tin tốt cho Trung Quốc, Trung Quốc sẽ mất đi “vùng đệm hòa hoãn” phía Nam trong sự đối kháng với Mỹ. Cục diện này là ước nguyện của người Mỹ mấy chục năm qua, cũng là mục đích mà người Mỹ phải sử dụng biện pháp chiến tranh trong mười mấy năm mà chưa đạt được, và một khi xuất hiện cục diện này, dưới sự “giúp sức” của Trung Quốc, chắc chắn người Mỹ sẽ thực hiện được mục tiêu này. Nếu quân đội Mỹ có thể quay trở lại cảng Cam Ranh, có thể khẳng định cuộc sống của Trung Quốc sẽ không còn tốt đẹp. 
Hai là, chiếm giữ các đảo của Trung Quốc tại Trường Sa còn có các nước Philíppin, Malaixia, Inđônêxia, Brunây, nếu các nước này nhận được sự ủng hộ và xúi giục từ Mỹ, sẽ liên hợp với Việt Nam tiến hành chiến tranh chống lại Trung Quốc, cục diện này rất có khả năng xảy ra, vậy Trung Quốc phải làm sao? Toàn bộ khu vực Biển Đông sẽ trở thành chiến trường, hoàn toàn có thể khiến toàn bộ các nước Đông Nam Á thoái thác triệt để cho Mỹ, thảm họa chiến tranh sẽ tiếp nối, đồng minh của Trung Quốc tại khu vực này sẽ ngày càng ít, thậm chí bị cô lập hoàn toàn, hình tượng nước lớn có trách nhiệm của khu vực được Trung Quốc xây dựng từ năm 1999 đến nay bị sụp đổ hoàn toàn, nếu nhân cơ hội này Đài Loan đi theo hướng độc lập, Nhật Bản chiếm đóng tại đảo Điếu Ngư, Nam Tây Tạng lại có vấn đề, Trung Quốc thật sự xuất hiện cục diện “bốn bề gặp họa”, phiền phức không để đâu cho hết. 
Ba là, các đảo Việt Nam chiếm giữ tại Biển Đông phân bố rải rác và trong phạm vi rộng, đại bộ phận đều nằm ở cực Nam của Biển Đông, đánh chiếm các đảo trên với Việt Nam như thế nào, mặc dù nói một tấc lãnh thổ cũng không thể nhường, nhưng đối với Trung Quốc, một số đảo thuộc khu vực Trường Sa thực sự quá xa, xa đến mức nếu dựa vào biện pháp kỹ thuật hiện nay, cho dù khai thác, phát triển thì lợi ích thu được so với cái giá phải bỏ ra để bảo vệ cũng không thể so sánh được, ngược lại, những đảo này rất gần với phía Nam Việt Nam, huống hồ sau khi đánh chiếm những đảo này, hải quân Trung Quốc không thể dùng cả một hạm đội tác chiến bố trí lâu dài tại cực Nam của Biển Đông, vì vậy đánh chiếm các đảo này sẽ rất khó phòng thủ, rất có thể xuất hiện cục diện mất rồi lại được, được rồi lại mất, nếu xuất hiện cục diện này, hao người tốn của là chuyện không phải bàn, Việt Nam sẽ làm tiêu hao một lượng lớn sức chiến đấu của hải quân Trung Quốc, trong khi đó hải quân Mỹ cũng sẽ nhân cơ hội này gây ra những phiền phức cho hải quân Trung Quốc. 
Bốn là, Trung Quốc tiến đánh Việt Nam trước, chắc chắn sẽ gặp sự phản đối kiên quyết từ nước láng giềng phương Bắc - đó là Nga, vì sau khi Liên Xô tan rã, Nga kế thừa và phát triển quan hệ đồng minh hữu nghị với Việt Nam, hiện nay Nga là nguồn cung cấp trang bị vũ khí quân sự và hoả lực lớn nhất của Việt Nam, ngược lại, người Nga nhập khoảng 30% hàng nông sản, thực phẩm từ Việt Nam, một khi Trung-Việt xảy ra chiến tranh, chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới quan hệ đối tác mật thiết Trung-Nga mà hai nước mới thiết lập, tình hình quốc tế hiện nay đòi hỏi hai nước Trung-Nga phải đoàn kết mật thiết, cùng nhau đối phó với nguy cơ quân sự ngày càng nghiêm trọng, nếu Nga cũng gia nhập vào tập toàn tuyên truyền về thuyết “mối đe dọa từ Trung Quốc”, như vậy Trung Quốc sẽ ở vào địa vị quốc tế hết sức khó xử, Nga cũng sẽ đối xử thù địch với Trung Quốc, Trung Quốc thật sự bị Mỹ bao vây toàn diện. Trong khi đó, kinh tế của Trung Quốc cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đây là bất lợi lớn nhất. 
Căn cứ vào 4 nguyên nhân trên, Trung Quốc tiến đánh Việt Nam đầu tiên để giải quyết vấn đề Biển Đông là sự lựa chọn không sáng suốt, nếu tiến đánh Việt Nam đầu tiên, các nước tranh chấp khác dưới sự xúi giục và ủng hộ của Mỹ, khẳng định sẽ không khoanh tay đứng nhìn, nhưng nếu Trung Quốc tiến đánh Philíppin đầu tiên hoặc nước khác, tác giả có đầy đủ lý do chứng minh rằng, cho dù Mỹ gây chia rẽ như thế nào, Việt Nam đều sẽ không dám tham gia, trong vấn đề Biển Đông, hai nước Trung-Việt dường như có một dạng hiểu ngầm là: “anh không đánh tôi, tôi không tham gia” và “tôi không đánh anh, anh không tham gia”, năm ngoái Trung Quốc và Philíppin xảy ra xung đột xung quanh vấn đề đảo Hoàng Nham, biểu hiện giữa Trung Quốc và Việt Nam đã cho thấy tồn tại sự hiểu ngầm đó. 
Mặc dù, chiến tranh là tàn khốc, là không nhân đạo, nhưng có lúc cũng là điều phải làm và cũng là biện pháp hiệu quả nhất. Những vấn đề đang đặt ra cho Chính phủ và quân đội Trung Quốc là: Đánh ai trước? Khi nào đánh? Sau khi thu hồi các đảo bị chiếm đóng tại Biển Đông nên củng cố và bảo vệ như thế nào? 
Căn cứ vào tình hình Biển Đông hiện nay, tác giả đưa ra cách nhìn sau:
1. Nước nào quan hệ tốt nhất với Mỹ? 
2. Nước nào hô hào chống Trung Quốc mạnh nhất? 
3. Nước nào quy hoạch các đảo chiếm đóng của Trung Quốc vào bản đồ nước mình đầu tiên? 
4. Nước nào chiếm các đảo của Trung Quốc có cự ly gần với Trung Quốc đại lục nhất? 
Nếu quốc gia nào đồng thời phù hợp với 4 điều kiện kể trên, thì đó chính là đối tượng mà quân đội Trung Quốc cần tiến đánh đầu tiên, căn cứ vào tình hình Biển Đông hiện nay thì quốc gia đó chính là Philíppin.
Philíppin chiếm giữ 10 đảo. Philíppin là nước có lực lượng hải quân yếu nhất trong số các nước tranh chấp tại Biển Đông. Để chiếm giữ hữu hiệu các đảo, Philíppin đã áp dụng một số biện pháp cầu cứu sự ủng hộ và bảo vệ từ bên ngoài. Tháng 4/1992, Philíppin khởi xướng “Hiệp ước thân thiện và hợp tác ASEAN”, Hiệp ước này yêu cầu giải quyết hoà bình tranh chấp Biển Đông. Hai năm sau, Philíppin ký hợp đồng với một công ty của Mỹ, tiến hành cái gọi là hoạt động thăm dò và nghiên cứu địa chất ở khu vực tranh chấp phía Tây quần đảo Palawan , hành vi của Philíppin dẫn đến sự phẫn nộ của Trung Quốc. 
Được coi là một phản ứng, Trung Quốc đã dựng cột mốc trên đảo đá ngầm Mỹ Tế (Việt Nam gọi là Vành Khăn, Philíppin gọi là Panganiban) thuộc quần đảo Trường Sa, xây dựng nhà dân và nhà tránh bão dân dụng cho ngư dân. Philíppin cho rằng đảo Mỹ Tế thuộc Philíppin, vì vậy, đã tiến hành phá hoại có chủ ý, đồng thời bắt giữ các ngư dân Trung Quốc đang hoạt động tại vùng nước cách phía Tây quần đảo Palawan 80 km. Đây là tranh chấp đảo Mỹ Tế giữa Trung Quốc và Philíppin. Sau này, do cảnh cáo nghiêm khắc từ phía Chính phủ Trung Quốc, Philíppin đã phải thả toàn bộ ngư dân Trung Quốc. Được biết, Philíppin làm như vậy tất cả đều do cuộc bầu cử trong nước sắp diễn ra, khi người phát ngôn Bộ Ngoại giao Philíppin đề cập đến vấn đề này, đã viện dẫn Hiệp ước phòng thủ chung mà Philíppin ký với Mỹ, trong Hiệp nước này nói, một khi Philíppin bị tấn công, Philíppin sẽ tiến hành thảo luận song phương với Mỹ, có lẽ do nguyên nhân của Hiệp ước này mà Ngoại trưởng Mỹ đã nhắc nhở Ngoại trưởng Trung Quốc: Mỹ có nghĩa vụ với Philíppin theo Hiệp ước. 
Phải chăng Mỹ nhúng tay vào vấn đề tranh chấp Biển Đông? 
Mỹ nhúng tay vào tranh chấp Biển Đông là điều hoàn toàn khẳng định, đây là một trong những bước đi chiến lược “quay trở lại châu Á, xưng bá châu Á” của Mỹ, mục đích là kiềm chế Trung Quốc tăng tốc trỗi dậy trên phạm vi toàn cầu, để củng cố địa vị bá chủ của mình trên phạm vi toàn cầu, chính vì vậy việc tích cực nhúng tay vào vấn đề tranh chấp Biển Đông sẽ không có gì làm lạ, Trung Quốc cũng đã quen với bất cứ phiền phức nào đều có “bạn đồng hành” là Mỹ, cho dù là nhận được sự giúp đỡ của Mỹ, chẳng nhẽ người Mỹ triển khai hàng triệu quân và mười mấy chiếc hàng không mẫu hạm đến Biển Đông để giúp một nước nhỏ không quan trọng hay sao? Mỹ thực hiện chiến lược kiềm chế Trung Quốc, hoàn toàn không có nghĩa là chiến lược chiến tranh, thủ đoạn là “trò chơi bên miệng hố chiến tranh” chứ không phải “trò chơi chiến tranh”, không vì một hòn đảo nhỏ mà Mỹ khai chiến với Trung Quốc. Người Mỹ nhiều nhất cũng chỉ đem hàng không mẫu hạm đến uy hiếp Trung Quốc, viện trợ một chút vũ khí và ủng hộ về mặt nhân đạo. Người Mỹ liên hợp triển khai đối kháng quân sự nhằm vào Trung Quốc, là lấy đá đập vào chân mình. 
Ngay cả Mỹ thật sự xuất quân can dự, liệu Trung Quốc có từ bỏ vũ lực thu hồi chủ quyền các đảo tại Biển Đông? Đáp án là phủ định. Trung Quốc không phải là Ápganixtan, Irắc hay Libi, Trung Quốc ngày nay không yếu hèn như vậy, Trung Quốc tuyệt đối không tỏ ra yếu kém trước bất cứ quốc gia nào tại Biển Đông, có sự can thiệp của người Mỹ càng khiến Trung Quốc kiên định hơn vào quyết tâm và ý chí chiến đấu nhằm thâu tóm Biển Đông. Nếu “Trung-Mỹ tất phải có một cuộc chiến”, trước khi Chính phủ và quân đội Trung Quốc sử dụng vũ lực thu hồi các đảo tại Biển Đông, nên làm tốt mọi sự chuẩn bị để có thể quyết chiến với Mỹ tại Biển Đông. 

Theo báo mạng Quân sự Thiên Thiên, Trung Quốc, ngày 15 tháng 5
Trần Trung (gt)

IRAN VÀ IXRAEL AI MẠNH HƠN?

So sánh tiềm lực quân sự Israel và Iran

Israel có kho vũ khí phong phú với nhiều loại xe tăng, tàu ngầm, máy bay chiến đấu, tên lửa và súng ống hiện đại có nguồn gốc nước ngoài hoặc tự sản xuất.
Xe tăng Merkava Mark IV, phiên bản mới nhất của dòng chiến xa Merkava được sản xuất từ năm 1999. Với chi phí ra lò là 4,5 triệu USD/chiếc, xe tăng Merkava Mark IV là một loại khí tài hiện đại. Nó được trang bị hệ thống kiểm soát hỏa lực nâng cấp, hệ thống quản lý chiến đấu kỹ thuật số, khả năng sửa chữa nhanh chóng khi gặp sự cố.
Quân đội Israel hiện có 320 xe tăng Merkava Mark IV trong biên chế, trong khi số xe tăng cùng loại nhưng khác phiên bản là 1.360 chiếc. Đây là những chiến xa chủ lực của Israel và do nước này tự chế tạo. Ảnh: Zahaf
Ngoài dòng xe tăng Merkava, Israel còn có một loại chiến xa đáng chú ý khác là Magach, với phiên bản mới nhất là Magach 7.
Ngoài dòng xe tăng Merkava, Israel còn có một loại chiến xa đáng chú ý khác là Magach, với phiên bản mới nhất là Magach 7 được phát triển theo mẫu xe tăng M60 Patton của Mỹ. Tổng số chiến xa Magach đang có trong biên chế của quân đội Israel là 1.550 chiếc. Ảnh: Wikipedia
Xe bọc thép IDF Achzarit được Israel sản xuất dựa trên thiết kế của xe tăng T-54/T-55 của Liên Xô cũ. IDF Achzarit được sử dụng để vận chuyển binh sĩ và được trang bị một số loại súng có hỏa lực mạnh. Quân đội Israel hiện có 215 xe bóc thép này trong biên chế. Ảnh: Wikipedia
Pháo tự hành
Israel hiện có tới 600 cỗ pháo tự hành M109 155mm. Đây là mẫu pháo tự hành do Mỹ thiết kế và chế tạo. Ảnh: Military-today
Tên lửa hành trình Nimrod
Tên lửa chống tăng tầm xa Nimrod là một sản phẩm tự chế tạo của Israel. Loại tên lửa này có thể được bắn đi từ trên không hoặc từ dưới mặt đất. Ngoài mục đích theo thiết kế nhằm tấn công xe tăng của đối phương, tên lửa Nimrod còn có khả năng đánh phá các xe bọc thép, tàu chiến, boong ke… Tên lửa có thể đạt tốc độ 2.000 km/giờ này được trang bị hệ thống dẫn đường laser, vì thế nó có thể hoạt động cả ngày lẫn đêm. Ảnh: Wikipedia
Quân đội Israel còn đang sử dụng tên lửa chống tăng BGM-71 TOW do Mỹ sản xuất từ năm 1970. Đây là một trong số những tên lửa chống tăng được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới hiện nay. Ảnh: Wikipedia
Không quân Israel sử dụng máy bay chiến đấu F-15E Strike Eagle do Mỹ chế tạo. Đây là loại phi cơ tiêm kích có thể hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết, với tầm hoạt động rộng và có khả năng tiến sâu vào lãnh thổ của đối phương. F-15E Strike Eagle là một khí tài lợi hại dành cho đòn tấn công phủ đầu, nhằm làm nhụt ý chí chống trả, tạo điều kiện cho các đơn vị khác tấn công. Ảnh: Wikia
Ngoài F-15E Strike Eagle, quân đội Israel còn có một loại chiến đấu cơ chủ lực khác là F-16I Sufa. Đây là loại máy bay tiêm kích được dựa trên mẫu F-16 của Mỹ, nhưng đã có nhiều cải tiến. Israel đã thay mới 50% số thiết bị điện tử hàng không trên chiếc F-16l Sufa. Israel hiện có khoảng hơn 100 chiếc F-16l Sufa. Ảnh: Patricksaviation
Không quân Israel sử dụng nhiều loại trực thăng tấn công khác nhau, trong đó nổi bật là AH-64 Apache do hãng Boeing của Mỹ sản xuất. Loại trực thăng này được điều khiển bởi hai phi công và được trang bị nhiều loại vũ khí hiện đại, cùng các hệ thống hỗ trợ hữu hiệu, đặc biệt là hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu (GPS). Ảnh: Primeportal
Israel cũng đầu tư nghiên cứu và phát triển một số loại máy bay không người lái phục vụ mục đích quân sự. Từ trái qua phải là các máy bay không người lái IAI Heron, IAI Eitan, IAI Harpy, IAI Harop, Elbit Hermes 450 và Elbit Skylark. Ảnh: Robostuff, Xnir, Aviantionweek, Defenseindustrydaily, Typepad
Tàu ngầm lớp Type 800 Dolphin của Israel là loại tàu ngầm chạy bằng động cơ diesel do Đức sản xuất. Nó được dựa trên mẫu tàu ngầm lớp 209 mà Đức chế tạo để dành riêng cho việc xuất khẩu tới các khách hàng nước ngoài. Tàu ngầm lớp Type 800 Dolphin có chi phí đóng mới hàng trăm triệu USD mỗi chiếc và được coi là một trong những loại tàu ngầm có thiết kế phức tạp cũng như hiệu quả hoạt động hàng đầu trên thế giới. Israel hiện có 3 chiếc loại này và đang đặt hàng 3 chiếc nữa. Ảnh: Shlomiliss
Tàu hộ tống lớp Sa’ar 5 là một mẫu cải tiến từ tàu hộ tống lớp Sa’ar 4,5. Hải quân Israel đang vận hành 3 tàu loại này. Đây là những chiến hạm có sức mạnh nhất trong hạm đội hải quân của Israel. Dù mang danh là tàu hộ tống nhưng Sa’ar 5 lại được trang bị hệ thống vũ khí và có tốc độ di chuyển ngang với các khu trục hạm. Ảnh: WordPress
Tiềm lực quân sự Iran
Tên lửa đạn đạo Fajr-3 MIRV hiện đại nhất của Iran hiện nay. Đây là loại hỏa tiễn đẩy bằng nhiên liệu lỏng, có khả năng tấn công đa mục tiêu do nước này phát triển và trình làng năm 2006. Iran không tiết lộ tầm bắn của Fajr-3 và chỉ cho biết, nó có thể tàng hình trước radar. Ảnh: Wikipedia.
Tên lửa đất đối hạm Kowsar tầm trung do Iran chế tạo. Giới chức Iran khẳng định, nó có thể qua mặt hệ thống gây nhiễu điện tử của đối phương để đi đến mục tiêu chính xác. Ảnh: FARS.
Tên lửa phòng không vác vai Misagh 2 do Iran tự thiết kế, có tầm bắn 5km, trần bay tác chiến 5 km và mang đầu đạn nặng 1,42 kg. Thiết bị phóng của nó có trọng lượng 12,74 kg. Bộ Quốc phòng Iran bắt đầu cho chế tạo hàng loạt loại tên lửa cơ động nhưng lợi hại này từ tháng 2/2006. Ảnh: FARS.
Tên lửa hành trình đất đối hạm SSN4 Ra’ad có tầm bắn 350 km. Tehran tuyên bố hỏa tiễn mang đầu đạn 500 kg này có thể tấn công bất cứ loại chiến hạm hạng nặng nào tại vùng Vịnh, biển Oman và phía bắc Ấn Độ Dương. Ngoài ra nó có khả năng bay tầm thấp để tránh radar. Ảnh: IRIB.
Tên lửa tự hành đất đối không TOR-M1 do Nga chế tạo có khả năng tác chiến trong mọi điều kiện thời tiết. Nga đã bán cho Iran 29 đơn vị vũ khí loại này, một động thái khiến Mỹ kịch liệt phản đối. TOR-M1 được thiết kế để bảo vệ các cơ sở quân sự và dân sự, chống lại tên lửa hành trình, bom thông minh, máy bay chiến đấu và máy bay do thám không người lái của đối phương. Ảnh: Rian.
Máy bay chiến đấu Saegheh (bên phải) do Iran tự thiết kế, thử nghiệm và cải tiến, trình làng ngày 6/9/2006. Loại máy bay cường kích này được cho là có tính năng tương đương hoặc mạnh hơn cả F-18 nổi danh của Mỹ. Saegheh có buồng lái nhỏ hẹp chỉ dành cho một phi công, nhưng có khả năng vừa bắn tên lửa không đối đất vừa ném bom. Ảnh: FARS.
Máy bay tiêm kích Mig-29 nhập về từ Nga đã được Iran nâng cấp và trang bị thêm vũ khí hiện đại. Ảnh: Shiachat.
Trực thăng chiến đấu Cobra của Iran đang phóng tên lửa trong một cuộc tập trận. Ảnh: FARS.
Hai trong số 3 chiếc tàu ngầm lớp Kilo của hải quân Iran tại vùng Vịnh. Đây là loại tàu ngầm chạy bằng năng lượng điện diesel do Nga chế tạo, chuyên chống tàu chiến và tàu ngầm đối phương ở vùng nước nông. Đây cũng là một trong những thế hệ tàu ngầm ít gây tiếng ồn nhất trên thế giới. Ảnh: FARS.
Tàu ngầm mini Ghadeer do Iran tự thiết kế và chế tạo. Cho đến nay, thông số kỹ thuật cũng như trang bị vũ khí của loại tàu ngầm cơ động này vẫn còn là một điều bí ẩn. Ảnh: FARS.
Các chiến hạm và trực thăng chiến đấu của hải quân Iran trong một cuộc tập trận quy mô trên vùng Vịnh. Ảnh: FARS.
Tàu chiến hiện đại chạy bằng đệm không khí (hovercraft) của hải quân Iran trong một cuộc diễn tập quân sự. Ảnh: Xinhua.
Xe tăng Safir-74 của Iran được nâng cấp từ phiên bản T-72 do Nga chế tạo. Quân đội Iran đã trang bị thêm cho “cỗ máy chiến tranh” này một tấm áo giáp làm bằng những tấm kim loại hình chữ nhật, có khả năng chống lại đạn xuyên phá uranium. Ảnh: FARS
.
Bên trong một nhà máy chế tạo xe tăng của Iran. Đây cũng là nơi Iran tiến hành nâng cấp và hiện đại hóa những chiếc xe tăng nhập từ nước ngoài, nhằm đạt được khả năng tác chiến vượt trội so với đối phương. Ảnh: FARS.
Các binh sĩ Iran trong một cuộc duyệt binh tại thủ đô Tehran. Ảnh: AP.
Hình ảnh đặc trưng của bộ binh Iran: Được vận chuyển tới chiến trường bằng trực thăng CH-47 Chinook, sau đó chia lẻ hai người mang theo tên lửa vác vai đi một chiếc xe máy địa hình để cơ động tác chiến. Ảnh: AFP.

Thứ Năm, 10 tháng 11, 2011

HỒ CHÍ MINH - DANH NHÂN VĂN HÓA THẾ GIỚI

Trao tặng bản Nghị quyết UNESCO tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh  
03/10/2010 14:44

UNESCO vừa trao tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh cuốn sách văn bản Nghị quyết của Đại hội đồng UNESSCO về việc tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới.

Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh trao sách ảnh tư liệu về Bác Hồ cho Tổng Giám đốc UNESCO.

Đây là sự kiện diễn ra trong khuôn khổ triển lãm "Hồ Chí Minh và học tập suốt đời", do Bộ Giáo dục Đào tạo, Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch khai mạc sáng 2/10 tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Triển lãm hưng ứng cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", kỷ niệm Ngày Khuyến học Việt Nam (2/10) và Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.

Tổng Giám đốc UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc) Irina Bokova, Bộ trưng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Tuấn Anh, Thứ trưng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Phó Trưng Ban Chỉ đạo quốc gia về xây dựng Xã hội học tập Nguyễn Vinh Hiển, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Ngô Thị Thanh Hằng đã cắt băng khai mạc Triển lãm.

Nhân chuyến thăm này, Tổng Giám đốc UNESCO đã trao tặng phía Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh cuốn sách văn bản Nghị quyết của Đại hội đồng UNESSCO khóa 24 họp từ 20/10 đến 20/11/1987.

Trong đó có Nghị quyết 18.65 ghi tại trang 134 và 135 về việc tôn vinh Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới.

Tổng Giám đốc UNESCO đã bày tỏ lòng tôn kính đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người khai sinh nền độc lập của Việt Nam. Bà khẳng định, Hồ Chí Minh trước hết là một nhà thơ, nhà báo, nhà giáo nên Người nhận thức rất rõ tầm quan trọng của giáo dục, chỉ có thông qua giáo dục con người mới có đủ năng lực để thực hiện Quyền tự quyết. Nguồn vốn con người là qúy giá nhất - Nguồn vốn ấy không thể có được qua cách thức học một lần trong thời thơ ấu mà phải cần học tập suốt đời. Hồ Chí Minh chính là một tấm gương về học tập suốt đời.

Trên cương vị là Tổng giám đốc UNESCO, bà Irina Bokova đánh giá cao Việt Nam đã dành 20% ngân sách đầu tư cho giáo dục và hiện đang có nhiều nỗ lực để xây dựng một xã hội học tập. UNESCO cam kết tiếp tục hỗ trợ, sát cánh cùng Việt Nam phát triển giáo dục, thành lập trung tâm học tập suốt đời tại Hà Nội.

Tổng Giám đốc UNESCO cũng bày tỏ niềm tự hào là đối tác tham gia bảo vệ và quảng bá các di sản của Việt Nam, trong đó có Hoàng Thành Thăng Long.

Bộ trưng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Tuấn Anh cho biết, Triển lãm "Hồ Chí Minh và học tập suốt đời" sẽ được tổ chức đồng thời tại các Chi nhánh của Bảo tàng Hồ Chí MinhTP Hồ Chí Minh, Nghệ An, Cao Bằng nhằm khắc họa sinh động tấm gương Hồ Chí Minh về học tập suốt đời qua những việc làm, hành động cụ thể như học tiếng Pp từ các thủ thủy trên tàu, học trong ngục tù… động viên mọi tầng lớp nhân dân hăng hái học tập nhằm thực hiện cho được lời căn dặn của Bác: văn hóa giáo dục là sức mạnh của một dân tộc, "một dân tộc dốt là một dân tộc yếu"....

Hoàng Hoa Theo Báo điện tử Chính phủ