Thứ Hai, 6 tháng 12, 2010

BẢO VẬT QUỐC GIA - HẠNH PHÚC VÀ TỰ HÀO!

Chung | xuanlinh39 | October 10, 2010,15:30
Thế là bao nhiêu nghi ngờ, đồn đoán...
Bao nhiêu lo âu, thấp thỏm...
Bao nhiêu nóng giận bởi không thể kiên nhẫn thêm...
Rồi các bảo vật Quốc gia xuất hiện trong Mùa Thu 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.
Đẹp lung linh, đẹp diệu kỳ.
Suốt mấy cuộc kháng chiến bom rơi, đạn nổ, máu xương hòa đỏ thắm đất quê hương, đói no mấy lần tuôn nước mắt... ấy vậy mà Bảo vật Quốc gia vẫn còn đây. Đỏ thắm, lung linh, kỳ vĩ.
Văn hóa của dân tộc ta giữa lòng đất Việt này trường tồn trong dòng chảy lịch sử: yêu thương, nhân hậu, hòa bình...
Tự hào về Bảo vật Quốc gia của bao lớp tiền nhân để lại. Tự hào về nét văn hóa đầy sức sống, sáng trong, diệu kỳ qua mấy ngàn năm lịch sử. Tự hào về mỗi con người, mỗi nhành cây ngọn cỏ trên Tổ quốc Việt Nam đã qua bao gian khổ đau thương vẫn thấm sâu tình đất, tình người.  Cháu con thấy bóng tiền nhân càng thêm yêu thương và đoàn kết cho một ngày mai tươi sáng hơn...
 
Lần đầu tiên công bố bảo vật Hoàng cung
Sau hơn 50 năm được bảo quản tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, những bảo vật tượng trưng cho quyền lực của triều đại phong kiến như kim ấn, ngọc tỷ truyền quốc, bảo kiếm... lần đầu được giới thiệu tới công chúng sáng 9/10.

1- Hoàng cung vốn bí ẩn với với người dân và bảo vật trong hoàng cung lại càng bí ẩn. Hàng trăm năm qua, không nhiều người biết đến và được chiêm ngưỡng những bảo vật này. Chính vì vậy, những bảo vật từ hoàng cung các triều đại phong kiến Việt Nam luôn phủ một bức màn bí ẩn, thậm chí nhiều người cho rằng chúng đã không còn tồn tại hoặc đang nằm ở các bảo tàng, bộ sưu tập trên thế giới, hoặc ngộ nhận một số đồ dùng thông thường trong cung đình là bảo vật hoàng cung.

2- Qua nhiều thăng trầm của lịch sử, từ năm 1959 đến nay, hàng trăm bảo vật của triều đại Lê, Nguyễn như ấn vàng, kiếm vàng, sách vàng, đồ ngự dụng bằng vàng, ngọc... vẫn còn được bảo quản, gìn giữ nguyên vẹn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Đây là những bảo vật vô giá của nhân dân Việt Nam, không những chứa đựng giá trị lịch sử phong phú mà còn phản ánh tài nghệ khéo léo của các nghệ nhân cung đình qua từng thời đại.

3- Tại lần trưng bày đầu tiên, dù số lượng bảo vật không nhiều, nhưng để đảm bảo an ninh, Bảo tàng Lịch sử đã nhập tủ trưng bày bằng kính 2 lớp dày 12 ly, đóng mở bằng mật khẩu, bục bệ bằng thép 2 lớp. Phòng trưng bày cũng được lắp camera quan sát 24/24h.

4- Các vị quan khách tham quan tủ trưng bày mũ vàng của vua triều Lê, Nguyễn.

5- Do lần đầu được chiêm ngưỡng những bảo vật này nên hàng trăm người dân đã chen cứng trong phòng trưng bày và đua nhau ghi lại những hình ảnh đáng nhớ.

6-Mũ vàng triều Nguyễn (thế kỷ 19) nặng hơn 700 gam.

7-Mũ vàng triều Nguyễn (thế kỷ 19), nặng 660 gam, được gắn nhiều họa tiết bằng vàng.

8-

9-Cận cảnh đỉnh mũ.

10-Phía sau mũ cũng được trang trí tinh xảo.

Ấn, kiếm vàng triều Nguyễn

11-Từ trái qua phải: Ấn vàng "Sắc mệnh chi bảo" bằng vàng ròng nặng 8,5 kg, đúc năm Minh Mạng 8 (1827); ấn ngọc "Đai Nam Thu thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ" của triều Nguyễn; ấn "Quốc gia tín bảo" đúc bằng vàng, nặng gần 5 kg vào niên hiệu Gia Long.

12-

13-Ấn "Sắc mệnh chi bảo" gồm 2 cấp, có hình vuông, trên có hình rồng đầu ngẩng, 2 sừng dài, đuôi xòe 9 dải hình ngọn lửa, lưng ấn khắc hai dòng chữ Hán: "Thập tuế hoàng kim nhị bách nhị thập tam lạng lục tiền - Minh Mạng bát niên thập nguyệt cát nhật tạo". (Nghĩa là: Vàng 10 tuổi nặng 223 lạng 6 tiền - đúc vào ngày lành tháng 10 năm Minh Mạng thứ 8, 1827).

14-Kiếm vàng triều Nguyễn thế kỷ 19 (bên trên) và kiếm vàng "An dân bảo kiếm" năm Khải Định (1916-1925) ở bên dưới.

15-

16-

17-

18-Các họa tiết chạm khắc tinh xảo trên kiếm.

19-

20-

Chén ngọc, chậu vàng, sách vàng

21-Bộ chén ngọc khảm vàng triều Nguyễn.

22-Chậu vàng của triều Nguyễn, năm Duy Tân 5 (1911), trọng lượng 1,4 kg.

23-

24-

25-Đài vàng cẩn ngọc triều Nguyễn thế kỷ 19.

26-

27-Cuốn sách vàng chế tác năm Gia Long thứ 5 (1806) có trọng lượng 2,1 kg.
Tiến Dũng Vnexpress.net

GỖ ĐÁ TÂY NGUYÊN

xuanlinhbmtx | 09 March, 2010 14:15

                                          Rễ cây cà te

                                 Rễ cây hoá khủng long

                                 Gỗ hoá thạch


                    Gỗ hoá đá mấy triệu năm tuổi?

MIẾU TRẦM LÂM LINH THIÊNG

xuanlinhbmtx | 09 March, 2010 18:53

                                     Đền Trầm Lâm - vnmedia
Giữ gìn báu vật của Vua Hàm Nghi
Lao Động số 39+40 Ngày 16/02/2007 Cập nhật: 5:48 AM, 16/02/2007 (LĐ) -
   Hàm Nghi (em ruột Kiến Phúc - con nuôi thứ ba của Tự Đức) chỉ làm vua đúng một năm (8.1884-8.1885) lúc 17 tuổi. Sau khi bị thất thủ tại kinh thành Huế, các cận thần đưa vua xa giá ra Quảng Trị rồi xây dựng căn cứ chống Pháp ở vùng rừng Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
   Sau khi vua hạ bút phê chuẩn Chiếu Cần Vương (lần hai) được một ngày thì Phan Đình Phùng ở huyện Đức Thọ, Cao Thắng ở huyện Hương Sơn liền lên bái yết vua rồi trở thành những thủ lĩnh của phong trào Cần Vương. Nhưng Vua Hàm Nghi cũng chỉ lưu lại ở phòng tuyến Sơn phòng Hương Khê 24 ngày... Đêm báo mộng Chiến tuyến Sơn phòng của Vua Hàm Nghi ở cách miếu Trầm Lâm (dân gian thường gọi là miếu Trăm Năm) xã Phú Gia, huyện Hương Khê chừng một kilômét.
   Miếu thiêng tự ngàn xưa.
   Trước miếu có chín bậc đá ong, hai đầu là hai cấp cầu vồng để xuống hồ miếu, cũng nổi tiếng linh thiêng. Tương truyền, hồ miếu không có đáy, lòng hồ là mạch thuỷ lâm ăn sâu vào dòng sông Ngàn Sâu cách hàng chục kilômét. Và khi người dân địa phương thả cuộn dây 500 mét, đầu buộc viên đá nhưng đoạn chót cuộn dây vẫn không chùng thì họ càng tin hơn về hồ thiêng không đáy.
   Cụ Trần Tăng - một "pho sử sống" của vùng đất này còn cho biết: "Mùa hạn năm 1953 ao làng khô khốc, nhưng nước trong lòng hồ vẫn nguyên xi. Dẫu mưa lũ đến mấy, mực nước trong hồ vẫn không ngập. Năm ngoái, dân làng ra đào mương dẫn nước hồ ra để xây móng âm bao quanh hồ nhưng nước chảy mấy ngày đêm vẫn không hề cạn.

                                   Giếng Ngọc-vnmedia
   Dưới hồ có đủ thứ cá và sáu con rùa rất đẹp". Một đêm, Vua Hàm Nghi được báo mộng: "Quân phiến loạn đang theo kịp chân nhà ngươi. Việc này do ngươi tính liệu. Nhưng nhà ngươi tiếp tục trú ngụ ở đây thì muôn dân sẽ bị sát hại". Tỉnh dậy, Vua Hàm Nghi rung chuông, rung đạc mời cận thần lại để báo mộng rồi kịp thời viết sắc phong cho miếu Trầm Lâm trước khi xuống thuyền về lại Huế. Những báu vật vua mang theo, gồm hai con voi vàng, một con voi đồng, một con nghê đồng, hai thanh kiếm thần, 38 đạo sắc...được các triều thần đem vào miếu lễ tạ, hàm ơn giấc mộng.

                                              Hoàng Bào

                                             Voi vàng, ngựa vàng
   Âm thầm gìn giữ 122 năm trôi qua, người dân xã Phú Gia xem di vật vua ban như những báu vật thiêng liêng của làng. Cụ Trần Tăng tự hào: "Trải qua hai cuộc kháng chiến, bao nạn đói, bao trận bão lũ nhưng báu vật vua ban vẫn được dân nghèo làng này gìn giữ hết sức cẩn mật.
   Đến nỗi, mãi tới năm 2000, huyện, tỉnh mới biết làng có voi vàng, kiếm thần... của Vua Hàm Nghi".
   Từ miếu Trầm Lâm, tôi cùng anh Lê Khắc Tính - Phó Chủ tịch phụ trách văn hoá xã tới thôn Phú Hoà - nơi cụ Trần Văn Nhung đang giữ trọng trách coi giữ báu vật trong một năm. Dưới mái cọ nghèo, bên cạnh bàn thờ tổ tiên là bàn thờ chính thờ Tam vị đức Đại Vương (gồm Đức Thánh Mẫu ở miếu Trầm Lâm, hai đại tướng quân) và thờ Vua Hàm Nghi.
   Trong dáng vóc của một ông từ nho nhã, cụ Nhung nói: "Tôi một mái nhà tranh, một tấm lòng thành vì báu vật này là của giang sơn giao phó". Theo cụ Nhung, đến ngày rằm tháng chạp, mỗi năm làng lại tổ chức lễ hạ keo để "xin bề trên ứng chứng, ứng chức người được bầu làm đạo chủ (coi giữ báu vật) hàng năm" (sau này ban lễ nghi kết hợp văn hoá làng và chính quyền địa phương mở lễ hạ keo để chọn đạo chủ).
   Đạo chủ phải là người có đủ bốn điều kiện: Vợ chồng đang thượng tại; gia đình có nền nếp, gia phong; người đạo chủ phải biết làm lễ thông thạo; đặc biệt phải có niềm tin kính". Khi nghe tôi ngỏ ý muốn chụp hình hai con voi vàng, anh Tính giải thích: "Tất cả báu vật đều được niêm phong hoặc cất giữ trong két sắt. Việc được xem hay không phải tuỳ thuộc vào lễ xin âm dương của đạo chủ.
   Năm ngoái, một vị lãnh đạo tỉnh lên, ngỏ ý muốn nhìn thấy báu vật nhưng lễ xin không được, đành phải chịu". Cụ Nhung tiếp lời: "Tôi xin xong, nếu được thì đại diện chính quyền mới cho phép mở két. Nếu không được thì anh cũng phải về".
   Cụ Nhung thắp hương, quỳ trước bàn thờ khấn. Tôi hồi hộp nhìn theo khói hương bay quanh những lời cụ khấn. Cụ tung hai đồng tiền đều ngửa, bảo: "Được rồi đấy. Anh viết báo cho cả nước biết đến tấm lòng người Phú Gia giữ gìn báu vật của vua ban, lẽ nào không được".
   Tôi cảm ơn cụ, hồi hộp nhìn cụ mở két mang hai con voi vàng ra. Con voi lớn nặng 27 chỉ. Con voi nhỏ nặng 17 chỉ. Cả hai đều được bàn tay nghệ nhân kim hoàn chế tác theo thế đứng thẳng mang dáng vóc vừa mạnh khoẻ của con voi chiến vừa rất kỳ công với nịt, bành bé tẹo nhưng tinh xảo từng nét chạm.
   Hai thanh kiếm thần màu đồng nung, lưỡi trắng. Ngoài vỏ đề hai chữ "Phụng tự". Những bộ áo triều thần bằng nỉ như còn mới nguyên. Phía trước bên phải thêu hình ảnh con cò - tượng hình quan văn; bên phải là hình con cọp - tượng hình quan võ (văn cò, võ cọp). 38 đạo sắc được đựng trong 38 ống quyển còn tươi nguyên nét chữ của các triều vua.
    Cụ Nhung tâm sự: "Thời chiến, có lúc phải đào hầm để giấu các báu vật trong lòng đất nhưng khó mấy, mỗi năm phải làm lễ phơi đồ và lễ mộc dục (lễ lau chùi đồ tế khí). Và khi bàn giao cho đạo chủ mới, những người giữ trọng trách phải đếm cẩn thận từng báu vật và dùng cân tiểu ly để cân lại trọng lượng hai con voi vàng".
   Thế nhưng đã một lần xảy sự cố, khi một con voi vàng bị thay thế bởi một con voi vàng mã giống hệt. Đó là năm 1936 khi cố Lê Triết đang làm đạo chủ thì con trai là Lê Yêm "cuỗm" một con voi vàng đem sang Lào bán. Bán xong, Lê Yêm trích một khoản tiền mua đàn bò. Đang trên đường qua biên giới thì anh này bị một con bò to khoẻ nhất húc vào bụng, chết ngay tại chỗ.
   Bạn cùng thủ mưu với Lê Yêm là Lưu Duyên, ở nhà bị phát chứng bệnh thần kinh rồi đem con bỏ vào nồi nước sôi để...luộc. Bà vợ đi chợ về thấy cảnh cha luộc con, khiếp quá rồi chết đứng.
   Về sau, biết chuyện này, một người Lào đã mang con voi về xin làm lễ, trả lại cho đạo chủ...
   Lễ hội rước sắc Năm 2001, Bộ VHTT đã công nhận Sơn phòng Hàm Nghi, miếu Trầm Lâm và đền Công Đồng là quần thể di tích lịch sử cấp quốc gia.
   Bắt đầu từ đó xuất hiện lễ hội rước sắc (rước báu vật từ nhà đạo chủ cũ sang nhà đạo chủ mới) trong ngày mồng bảy tháng giêng hàng năm. Sáng sớm ngày đó, trước sự chúng kiến của dân làng, đạo chủ trong bộ đồ lễ thành kính, xin âm dương xong mới bắt đầu lễ rước.
   Dân làng ai cũng mặc bộ đồ đẹp nhất để rước kiệu từ miếu Trầm Lâm qua điếm Công Đồng qua Sơn Thành rồi về nhà đạo chủ mới. Các báu vật và bảo sắc được các bô lão đội lên đầu. Ảnh Vua Hàm Nghi được rước bằng kiệu. Đoàn rước đi qua đồng khoai, ruộng lúa, xóm làng trong âm vang tiếng chiêng, tiếng trống và râm ran những câu chuyện, truyền thuyết vui buồn ngày xưa. Chỉ mới bốn năm mà lễ hội rước sắc này đã trở thành lễ hội văn hoá lớn nhất huyện Hương Khê, thu hút hàng ngàn du khách thập phương. 
(Sông Lam) 

CHUYỆN ÔNG NỘI KỂ

  Đền Thờ Ngô Quyền (Đường Lâm Sơn Tây)
 
    Quê tôi, nơi chảo lửa của miền Trung. Hè đến, nhiệt độ thường nóng nhất nước. Trong cái oi ả, nóng bức của chiều hè, sau bữa cơm chiều, lúc cả nhà quây quần uống "nác" chè xanh, ông tôi thường kể một vài câu chuyện…
   Chuyện của ông nội tôi thường mở đầu: Quê ta ở Đường Lâm, Sơn Tây,…
   Ngày ấy, tôi không tưởng tượng nổi quê tôi là như thế nào… Chỉ biết là nơi ấy là mảnh đất đã sinh ra Ngô Quyền, danh nhân nước Việt, là nơi sinh ra Tướng công Ngô Đăng Minh…là người đã lãnh đạo dân nghèo khai hoang lập ấp tạo nên vùng dân cư trù phú phía nam của Nghệ Tĩnh này. Tôi nghĩ, nơi ấy, quê tổ của tôi thật đẹp, thật hào hùng…
   Họ Ngô từ Sơn Tây, xuất phát thành hai ngả, một nhánh đi sâu vào Quảng Bình lập nghiệp…một nhánh đi lên thượng nguồn sông Ngàn Sâu huyện Hương Khê, Hà Tĩnh. Ông bảo, Tướng công Ngô Đăng Minh đã đưa Họ ta từ Đường Lâm Sơn Tây đến làng Trảo Nha huyện Can Lộc Hà Tĩnh… rồi lập nên xứ Trúc Lâm, Trung Hà, Nam Trạch, Thượng Bình, Qui Hợp... của Huyện Hương Khê.
   Từ thế kỷ 17 đến nay, đã hơn 400 năm ấy, làng tôi giờ đây vẫn còn đó những tên cổ: Thượng ấp, Hạ ấp, Yên Hội... Trong anh em họ hàng thường có câu "Chín đời chưa ra người nể". Nghĩa là chín đời chưa phải người ngoài, phải tìm rõ ngọn nguồn, tránh việc trai gái lấy nhầm nhau ….
   Họ Trần, Trương, Nguyễn, Bạch là anh em… nhà tôi mang họ Trần. Ông nội kể, ngày ấy, Tướng công có chuyện phải về Thăng Long. Người ra đi trong niềm lưu luyến của dân làng và dòng họ. Như linh tính mách bảo, Người dặn con cháu phải đoàn kết, yêu thương nhau… chuyến đi này chắc là dài lắm. Người đổi họ cho anh em. Từ đó họ Trần, Trương, Nguyễn, Bạch ra đời…
   Thế rồi Người đi và đi mãi… Người mất ở Kinh thành Thăng Long. Người đã chuẩn bị cho mình một chúc thư. Khi khâm liệm, quan quân đã đọc được bức thư của Người… Ước nguyện của Người là được an táng nơi Người đã cùng anh em xông pha trận mạc, đánh giặc Bồn Man, giữ yên bờ cõi Tổ quốc…
   Nhà Vua đã ban chỉ, cho quân lính đưa Người từ Thăng Long về an táng tại Trúc Lâm, huyện Hương Khê…
   Nơi yên nghỉ của Người đã thành Di tích lịch sử.
   Nơi làng tôi, ngài cho xây ngôi đền thật to, thật đẹp, là nơi tụ hội của dân làng. Ngôi đền có Nhà Thánh, có Hàm Rồng, có thượng điện, hạ điện… Ngôi đền tọa lạc trên một gò đất cao, hướng về phía mặt trời mọc.
   Cây cỏ trong khu vực đền là của Thánh, rất thiêng, chẳng ai dám chặt cây gì của Ngài.  Hễ có ai xâm lấn đất Nhà Thánh, hay vi phạm tôn nghiêm đều bị Ngài trừng  trị. ...
Cây cổ thụ trong Đền um tùm. Những lúc chiều về, từng đàn chim ríu rít gọi nhau, không gian thật thanh bình và cũng rất huyền bí…
   Phía trước đền có ruộng cấy lúa, gọi là ruộng Họ. Ruộng chung của Họ giao cho người lo việc cúng đơm. Ruộng là tài sản chung không ai có quyền tranh chấp…
   Bao nhiêu thế kỷ đi qua, người quê tôi, dẫu từ đầu huyện đến cuối huyện, vẫn gọi nhau theo ngôi thứ. Những ai ở Trúc Lâm thường được gọi bác, làng tôi phận em út chỉ được gọi chú mà thôi.
   Trong làng tôi, ai ở Thượng ấp thì được gọi bác, Hạ ấp thì gọi chú, Yên Hội thì gọi là chú út… Việc chung, việc riêng của anh em trong làng, trong họ đều cùng nhau gánh vác. Truyền thống đoàn kết đã thành mối keo sơn…
   Làng tôi thường trọng việc học hành. Nhà nghèo xơ nghèo xác cũng gắng làm thuê, cuốc mướn cho con ăn học, kể cả bán đi những tài sản quý nhất cho việc học hành của con, của cháu… Ông nội tôi bảo: họ ta có truyền thống học hành, từ Ngô Quyền, Ngô Tuấn (Lý Thường Kiệt) đến Ngô Tướng Công (Ngô Đăng Minh), thời hiện đại có Thi sỹ Ngô Xuân Diệu… ai ai cũng từ gian khổ, mài sắt nên kim… các con hãy gắng học hành cho nên người. Nếu sau này đi cày ruộng thì cũng phải là đường cày của người có học.
   Ngày trước, khi còn sống, ông tôi hay được làng chọn đi đầu trong các đình đám cưới xin. Làng có quan niệm, người đi đầu đoàn phải là người vợ chống hòa thuận, con cái học hành chăm chỉ, có con trai, con gái… để sau này mang điều may mắn cho con cháu khi khởi lập gia đình.
   Cứ mỗi chiều hè, tôi lại cứ nghe ông kể chuyện. Chuyện ông kể đi kể lại đã bao năm nay mà vẫn đó, như mới bắt đầu rằng: quê ta ở Đường Lâm Sơn Tây, qua Trảo Nha Can Lộc, Trúc Lâm, Trung Hà, Nam Trạch, Quy Hợp… họ Trần, Trương, Nguyễn, Bạch là anh em…  

HỌ NGÔ VIỆT NAM

Họ Ngô xuất hiện rất sớm ở Việt Nam, từ thời các Vua Hùng. Thần phả đình An Duyên (Thường Tín, Hà Tây) ghi tên họ Ngô Ngọc Lang, quán Sơn Nam Hạ, Tướng của các Vua Hùng đời thứ 18. Bia Hàm Long (Hà Nội) có ghi Ngô Long, Tướng của các Vua Hùng đời thứ 18. Với chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (năm 938-cách nay đã 1060 năm), chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc, Ngô Quyền đã trở thành người Anh hùng Dân tộc. Theo tôc phả họ Ngô do Hán Quốc công Ngô Lan biên soạn năm Đinh Dậu, triều Lê Thánh Tông (1477), thì Tổ họ Ngô là Ngô Nhật Đại, hào trưởng châu Phúc Lộc (vùng Cửa Sót, xã Thạch Kim, Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay). Ngài đã tham gia khởi nghĩa Mai Thúc Loan (722), sau thất bai phải rời ra vùng Châu Ái (Thanh Hóa). Từ Ngô Nhật Đại đến Ngô Quyền trải qua 5 đời, gần 300 năm không thấy ghi chép rõ ràng. Nếu tính từ Ngô Quyền thì đến nay họ Ngô đã truyền được 36-37 đời, có nơi tính ra đã trên 40 đời, xuất phát từ Châu Hoan, Châu Ái, qua Đường Lâm (Sơn Tây) mà tỏa đi khắp cả nước, có mặt từ Lạng Sơn đến Cà Mau, Hà Tiên… Qua khảo sát ban đầu, chúng tôi xin trình bày thế thứ của dòng họ một cách khái quát như sau: Cụ Tổ đầu tiên là Ngô Nhật Đại, quê Ái Châu, làm nghề nông, chưa rõ ở làng xã nào, sinh con là Ngô (Tá) Nhật Dụ theo Nho học, làm Liễu tá trong Phủ đô hộ thời Bắc thuộc. Rồi đến Ngô Đình Thực là Hào trưởng, sinh Ngô Đình Mân, làm Mục Phong Châu, thời Khúc Thừa Hạo làm Tiết độ sứ. Đến Phong Châu đã cao tuổi, Ngô Đình Mân lấy bà Phùng Thị Tinh Phong, con gái Phùng Hải, cháu Bố Cái Đại vương Phùng Hưng., sinh Ngô Quyền và Ngô Tịnh ở làng Cam Lâm, quận Đường Lâm (có thuyết nói rằng Ngô Quyền sinh ở làng Mía-nay là làng Mía, tức Thịnh Mỹ, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa-có thể xuất phát từ địa danh làng Mía Thọ Xuân trùng với làng Mía Đường Lâm) Ngô Tịnh sau làm Trấn thủ Kỳ Hoa, Kỳ Anh (Hà Tĩnh), sinh ba trai, một gái, người làm Châu mục, người làm Tăng thống, người Hào trưởng…đều thất truyền. Ngô Quyền sinh ngày 12 tháng 3 năm Đinh Tỵ (897), mất ngày 18 tháng Giêng năm Giáp Thìn (944), thọ 47 tuổi, mộ táng tại thôn Cam Lâm. Theo Quốc sử và văn bia lưu truyền, độ tuổi 20 cha mẹ đã từ trần, Ngô Quyền vào Châu Ái làm Nha tướng Dương Diên Nghệ, lấy con gái Dương Diên Nghệ là Dương Thị Như Ngọc, sinh Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Vân (có thuyết nói rằng, Ngô Quyền còn có hai người con nữa là Cần Hưng và Nam Hưng, khi Nam Kha cướp ngôi cho ở với mẹ). Ngô Quyền vào Châu Ái khoảng chừng 10 năm, ra đánh Lý Khắc Chính rồi lại trở vào Châu Ái khoảng 6-7 năm. Lần thứ 2 ra trừ Kiều Công Tiễn, đánh đuổi quân Nam Hán, làm Vua, đóng đô ở Cổ Loa. Con cháu kế tiếp ở Cổ Loa, đến năm 965 thì lui về ba nơi: Ngô Xương Xý về Bình Kiều (Thanh Hóa), Ngô Nhật Khánh về Đường Lâm. Cha con Ngô Nhật Chung, Ngô Nhật Minh về Đỗ Động (Thanh Oai). Thiên sách vương Ngô Xương Ngập, vợ là Phạm Thị Uy Duyên, con gái Phạm Phòng Át ở Nam Sách, sinh Ngô Xương Xý, Ngô Xương Tỷ, Ngô Xương Tỷ đạo hiệu Châu lưu ở chùa Phật Đà, làng Cát Lợi, quận Thường Lạc (sau do kỵ húy Lê Lợi gọi trệch là Cát Lỵ thuôc huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa), giữa thị trấn Cồng và ga Văn Trai). Chúng tôi được biết tin mộ của vị Đại sư này là một trong những ngôi tháp ở chùa Trấn Quốc (Hà Nội) đã đến tìm nhưng chưa thấy. Ngô Xương Xý thất bại ở Bình Kiều, hai con trai, một là Ngô Xương Sắc lưu lạc ở vùng thượng du Châu Ái, sinh Ngô Tử Canh (thất truyền) và Ngô Tử Ân. Con cháu Ngô Tử An, Tử Vinh, Tử Uy v.v…dần dần sa sút, 8 đời sau quá cùng cực. Ngô Rô về coi chùa ở Thiên Phúc, làng Thung, xã Đồng Phang, huyện Yên Định (vào cuối Trần). Đến Hậu Lê thì trỗi dậy, phát triển một cách kỳ lạ nên được giải thích rằng mô táng vào đất phát! Người con thứ hai của Ngô Xương Xý là Ngô Ích Vệ tức Ngô An Ngữ, tuổi nhỏ chạy vào Châu Hoan. Khi Lý Công Uẩn lên làm vua ông ra làm một chức quan nhỏ là Sùng Ban Lang Tướng. Ông theo Vua Lý ra Thăng Long, ở phường Thái Hòa, Khán Sơn, lấy bà họ Hán, sinh ra Ngô Tuấn (tức Lý Thường Kiệt), Ngô Chương (tức Lý Thường Hiến) sau này. Nhà Trần thay nhà Lý, dòng họ Ngô sa sút, tuy nhiên vẫn giữ được nền nếp và ở nhà dạy học. Đến cuối đời Trần, ba anh em của Minh Đức (cha của Ngô Bệ), Minh Hiếu, Minh Nghĩa (cha của Ngô Diên Tố) đổi tên, đi mỗi người một nơi. Những người khác không được ghi chép lại. Cũng từ đó mất quan hệ gia tộc 5-6 trăm năm. Đến ngày nay mới tìm ra mấy họ chạy lánh nạn, đó là: -Họ Lạc Nghiệp: Một bà mẹ đổi tên là Bà Nồm đem con về Giao Thụy, đến nay đã trên 20 đời, thành một họ lớn mấy ngàn người. Có bộ phận trở về quê cũ Nam Sách trông coi từ đường, có bộ phận lên ở Đồng Hỷ-Thái Nguyên, Sơn Dương, Tuyên Quang. -Họ Ngọc Hà Hà Nội phân chia về Vân Động, Đông Cao, Thái Bình. -Họ Nhĩ Thượng ở huyện Gio Linh, Quảng Trị dọc bờ sông Hiền Lương có 6-7 ngàn nhân khẩu ở 6 xã trong đó có 3 xã có chữ Nhĩ, 3 xã có chữ Hà, dần dà có gần 3 ngàn người thiên cư vào Nam. -Họ Bắc Biên Gia Lâm đang hương khói đền Lý Thường Kiệt. Dòng Ngô Xương Sắc ở Châu Aí, từ Hậu Lê trở đi là dòng phát triển mạnh nhất, càng thiên cư xa càng phát triển mạnh, có thể hơn cả dòng họ ở nguyên quán. Sau bảy, tám đời sa sút cùng cực, Ngô Tây ở coi chùa sinh hai con trai. Ngô Quỳnh con bà họ Nguyễn lưu lạc sang huyện Vũ Thư ,Thái Bình đến nay thành họ Minh Lăng có vài ngàn nhân khẩu. Con thứ là Ngô Kinh con bà họ Trịnh đi làm gia nô cho tù trưởng Lê Khoáng, lấy bà họ Lê (cô cháu với bà mẹ Lê Lợi) sinh bốn trai, một gái, giúp Lê Lợi khởi nghĩa. Cha con, ông, cháu thành 7 vị Công thần khai quốc. Bước đột phát kéo dài suốt 300 năm triều Lê, nhân khẩu tăng nhanh; Ngô Từ sinh 11 trai, 8 gái là Ngô Lan, Ngô Nạp, Ngô Khế, Ngô Hộ, Ngô Thị Ngọc Dao… Thời Lê sơ, những người thiên cư vào Quảng Nam sinh sôi thành nhiều dòng họ trên dưới 20 đời tập trung ở Điện Bàn, Duy Xuyên, Hòa Vang tỉnh Quảng Nam. Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, quan Đại thần của nhà Lê là Ngô Nhân Dũng không theo Mạc. Đầu năm 1530, Mạc trục xuất Ngô Nhân Dũng về quê ở xã Lý Trai, tổng Vạn Phần. Ông mai danh, ẩn tích lên hương Kẻ Ngọn ở với cháu là Ngô Phúc Tín. Người ta gọi là ông Trục, bà Trục, cùng với bố vợ là Lại Quận công Phan Công Tích trấn thủ tại Nghệ An, lập nghĩa quân phù Lê, diệt Mạc. Những người họ Ngô thiên cư do đi theo Nguyễn Hoàng vào Quảng Trị, Thừa Thiên nay có trên 30 họ, nhiều nhất là đất Huế và lận cận. Những cuộc thiên cư do sa cơ trong chiến tranh Trịnh- Nguyễn (1655-1680) vào vùng Quảng Nam, đến Bình Định, có người vào đến Châu Đốc, đến nay đã 14-15 đời. Ngoài ra ở nhiều cuộc thiên cư lẻ tẻ do hiềm nghi chính trị của Chúa Trịnh, phải chạy ra đất Mạc, đổi họ hoặc không tập trung vào Sơn Nam Hạ và Kinh Bắc, hình thành hai cụm lớn. Đi theo quê mẹ cũng có, ghi không thể hết. Nhìn chung lại, bất cứ thiên cư trong hoàn cảnh nào, đến địa bàn mới nào, thế hệ sau kế thừa thế hệ trước, thường phát triển mạnh hơn ở nguyên quán, đặc biệt là lập nghiệp thường dựa vào lưu vực các sông lớn nhỏ. Các chi họ phải đổi sang họ khác nay đã biết được trên 10 họ đổi sang là: Phạm, Trần, Nguyễn, Lê, Đỗ, Phan, Hoàng, Hoa, Văn, Vũ Văn. Các họ khác đã đổi sang họ Ngô đã biết: Lê đổi sang Ngô ở Nguyệt Viên (Ngô Cao Lăng), họ Lê ở Long Linh, Xuân Dục, họ Nguyễn ở Tam Sơn. Cũng có những nhân vật như Ngô Sỹ Liên, Ngô Tòng Chu chưa biết thuộc dòng nào. Với một chiều sâu và chiều rộng qua lớn, phả ký thất lạc, mất mát quá nhiều, nay lập lại thật là một việc làm vượt qúa sức của một vài người, không sao tránh khỏi có nhiều thiếu sót. Dòng họ Ngô qua hàng ngàn năm lịch sử biến thiên, từ một cội, nảy muôn cành, không khỏi có cành cụt. Nhìn chung, đời này qua đời khác, con cháu nội cũng như ngoại, trai cũng như gái, nêu gương hiếu thảo, trung thực, đảm đang, một lòng vì nước vì nhà của Tiên tổ, qua thử thách giáo dục rèn luyện đã gìn giữ được truyền thống tốt đẹp của dòng họ, đó cũng là một phần của truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.
Theo Hoai Phong (Báo Nhân dân-S 44(509), ngay 01/11/1998)


DANH NHÂN VĂN HÓA NGÔ ĐĂNG MINH

Hồ Bình Sơn (Thị Trấn Hương Khê)

Đền thờ và mộ Ngô Đăng Minh thuộc xã Hà Linh, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh.
Ngô Đăng Minh sinh ra trong một gia đình dòng dõi vọng tộc, được sự dạy dỗ của cha là Hiệu sinh Ngô Đăng Quang nên ông được rèn luyện học tập nghiêm chỉnh cùng với trí thông minh. Năm Chính Hoà thứ 15 (1694) Ngô Đăng Minh, người đã lĩnh bảng vàng trong kỳ thi Đình ở Thăng Long, được vua ban sắc phong "Đặc tiến kim tứ Vinh lộc Đại phu, Tư lễ giám, Hữu đề điểm trụ quốc thượng ban, Án trung bá".
Năm Chính Hoà thứ 25 giặc Bồn Man xâm chiếm bờ cõi nước ta, Ngô Đăng Minh lên đường dẹp giặc. Khi thắng lợi trở về được sắc phong là "Đặc tiến Kim tứ, Vinh Lộc đại phu, tư lễ giám, tả đề điểm, án trung hầu trụ quốc thượng lên". Bờ cõi yên Ngô Đăng Minh lại góp sức mình vào việc phát triển kinh tế, mở mang dân trí, giúp dân nghèo. Ông mất ở Thăng Long, nhà vua cho chở quan tài về quê tại làng Trúc Lâm, nhân dân và con cháu dòng họ Ngô xây lăng mộ và lập đền thờ tại quê nhà.
Nhà vua ban sắc hiệu cho ông là: "Bản thuộc thành hoàng, Dực bảo trung hưng quang ý, Trung đẳng thần tôn thần". Đền thờ và mộ Ngô Đăng Minh là một kiến trúc cổ những đồ tế khí, đại tự câu đối có giá trị nghệ thuật cao. Hạ điện được xây dựng trên một sườn đồi, trên cùng gian giữa có treo bức đại tự sơn son chữ đen: “ Quang Tiền dư hậu” phía dưới có bức đại tự “ Vĩnh ngôn hiếu tư” và hai bên có câu đối: Đức tháo thiên bồi Hồng Lĩnh tú Phúc nguyên địa dẫn Trúc giang thanh. Toà Thượng điện được đặt cao hơn hạ điện 1, 1 m theo hình thế tự nhiên của sườn dốc. Gian trước đặt hương án chân đèn mâm bồng gian trong đặt bệ thờ theo kiểu chân quỳ dạ cá, trên bệ đạt long ngai có linh chủ của Ngô Đăng Minh.
Trong thời kỳ cận hiện đại, đền thờ Ngô Đăng Minh là nơi chứng kiến sự kiện lịch sử cách mạng 1930-1931, là nơi thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên tại Hương Khê.
Nhưng giá trị lớn nhất của di tích, đây là đền thờ và mộ của một nhân vật học rộng tài cao được phong tước hầu có công trong việc cầm quân dẹp loạn, mở mang việc học hành, nâng cao dân trí, tổ chức chiêu tập dân nghèo khai hoang lập ấp phát triển kinh tế tạo dựng cuộc sống ở thế kỷ 18. ( Sở Văn hoá - Thông tin Hà Tĩnh )  

BÁC HỒ THĂM NÔNG TRƯỜNG CÀ PHÊ NGHỆ AN

Thứ Sáu, 3 tháng 12, 2010

107 - QUY ĐỊNH VỀ ĐẢNG ỦY KHỐI DOANH NGHIỆP

QUY ĐỊNH
Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy
của đảng uỷ khối doanh nghiệp tỉnh, thành phố
(Quy định số 294-QĐ/TW, ngày 23-3-2010 của Ban Bí thư)

- Căn cứ Điều lệ Đảng;
- Căn cứ Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá X;
- Căn cứ Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan đảng, định hướng về đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội,
Ban Bí thư quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của đảng uỷ khối doanh nghiệp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là đảng uỷ khối doanh nghiệp tỉnh) như sau:
I- VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG
Điều 1. Vị trí
Đảng uỷ khối doanh nghiệp tỉnh là cấp uỷ trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ và là cấp uỷ cấp trên trực tiếp của các tổ chức cơ sở đảng trong khối.
Điều 2. Chức năng
Lãnh đạo các tổ chức cơ sở đảng trong khối thực hiện nhiệm vụ chính trị, xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong khối trong sạch, vững mạnh gắn với xây dựng doanh nghiệp và đoàn thể trong doanh nghiệp vững mạnh; kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, đảng viên trong khối chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tham gia tham mưu, đề xuất với tỉnh uỷ, thành uỷ về các chủ trương, giải pháp lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng trong các doanh nghiệp thuộc tỉnh, thành phố.
II- NHIỆM VỤ
Điều 3. Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị
- Quán triệt, tuyên truyền, phổ biến đường lối, quan điểm, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xây dựng nghị quyết, chương trình hành động sát hợp với hoạt động của doanh nghiệp.
- Lãnh đạo tổ chức đảng, đảng viên thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh đảm bảo đúng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Lãnh đạo thực hiện chiến lược phát triển giai cấp công nhân theo nghị quyết Trung ương; đảm bảo thực hiện Luật Lao động và các quy định của pháp luật, chính sách đối với người lao động.
- Đề xuất với tỉnh uỷ, thành uỷ, uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố những giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Lãnh đạo thực hiện tốt các chủ trương, chỉ thị, nghị quyết của cấp uỷ, chính quyền địa phương về phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ môi trường trên địa bàn nơi doanh nghiệp đóng.
 Điều 4. Lãnh đạo công tác giáo dục chính trị, tư tưởng
- Lãnh đạo thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh; phổ biến, quán triệt kịp thời đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để đảng viên, cán bộ, công nhân và người lao động nắm và thực hiện có hiệu quả.
- Giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; xây dựng văn hoá doanh nghiệp, giữ gìn bản sắc dân tộc trong hội nhập kinh tế quốc tế.
- Bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận, năng lực hoạt động thực tiễn, ý thức tổ chức kỷ luật cho đảng viên, cán bộ.
- Lãnh đạo đảng viên, cán bộ, công nhân và người lao động của các đơn vị thuộc khối nêu cao tinh thần trách nhiệm, tính kỷ luật, đề cao cảnh giác, chủ động phát hiện và đấu tranh với các quan điểm sai trái, các hành vi vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật; đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.
Điều 5. Lãnh đạo công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên
- Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp để xây dựng các tổ chức cơ sở đảng thuộc khối trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đảng viên.
- Lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát các tổ chức cơ sở đảng trực thuộc thực hiện đúng Điều lệ Đảng và các quy định của Trung ương về tổ chức sinh hoạt đảng; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, làm tốt công tác quản lý đảng viên.
- Bồi dưỡng cấp uỷ viên, chăm lo công tác phát triển đảng viên, thực hiện công tác khen thưởng và kỷ luật đối với tổ chức đảng và đảng viên theo quy định.
Điều 6. Lãnh đạo công tác cán bộ
Lãnh đạo, kiểm tra, hướng dẫn các chi uỷ, đảng uỷ trực thuộc trong việc thực hiện các nghị quyết, quy chế, quy định, quyết định, quy trình về công tác cán bộ; quản lý, nhận xét, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, miễn nhiệm, giới thiệu ứng cử, thực hiện chính sách đối với cán bộ... theo phân cấp quản lý.
- Tham gia ý kiến về công tác cán bộ đối với đảng viên trong khối thuộc diện ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ quản lý (khi có yêu cầu).
Quyết định hoặc đề nghị với tỉnh uỷ, thành uỷ quyết định về tổ chức bộ máy và cán bộ chuyên trách công tác đảng của đảng uỷ khối theo phân cấp quản lý.
Điều 7. Lãnh đạo và thực hiện công tác kiểm tra, giám sát
- Lãnh đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát theo quy định của Điều lệ Đảng; giữ nghiêm kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước; giữ vững đoàn kết nội bộ.
- Chủ động phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời tổ chức đảng, cán bộ và đảng viên có biểu hiện vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Điều 8. Lãnh đạo các đoàn thể
Lãnh đạo xây dựng các đoàn thể trong khối vững mạnh, hoạt động đúng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệ của các đoàn thể. Lãnh đạo trực tiếp đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh khối doanh nghiệp tỉnh về phương hướng, nhiệm vụ, tư tưởng, tổ chức và cán bộ.
- Lãnh đạo xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của người lao động để thực hiện đúng đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của người lao động, của nhà đầu tư. Động viên, khuyến khích tạo điều kiện để các đoàn thể tham gia xây dựng Đảng và quản lý doanh nghiệp; đẩy mạnh phong trào thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của doanh nghiệp.
Điều 9. Lãnh đạo công tác bảo vệ chính trị nội bộ
Thực hiện và lãnh đạo, chỉ đạo các cấp uỷ trực thuộc thực hiện đúng các quy định của Trung ương về công tác bảo vệ chính trị nội bộ Đảng.
III- TỔ CHỨC BỘ MÁY
Điều 10. Cơ quan tham mưu, giúp việc của đảng uỷ khối
Đảng uỷ khối doanh nghiệp tỉnh được thành lập các cơ quan tham mưl giúp việc gồm: văn phòng, ban tổ chức, ban tuyên giáo, cơ quan uỷ ban kiểm tra.
- Đảng uỷ khối doanh nghiệp tỉnh có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản riêng, được trang bị cơ sở vật chất, phương tiện làm việc theo quy định. Uỷ ban kiểm tra và các cơ quan tham mưu, giúp việc của đảng uỷ khối có con dấu để phục vụ công tác chuyên môn, nghiệp vụ.
Điều 11. Biên chế cán bộ chuyên trách
- Biên chế cán bộ chuyên trách của đảng uỷ khối doanh nghiệp tỉnh từ 15 đến 19 người, do ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ quyết định trong tổng số biên chế cán bộ chuyên trách khối đảng, đoàn thể được giao.
Các cơ quan tham mưu, giúp việc của đảng uỷ khối được sử dụng một số cán bộ kiêm nhiệm.
IV- QUAN HỆ CÔNG TÁC
Điều 12. Với các cơ quan tham mưu, giúp việc tỉnh uỷ, thành uỷ
- Đảng uỷ khối doanh nghiệp tỉnh phối hợp với các cơ quan tham mưu, giúp việc tỉnh uỷ, thành uỷ để lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn, kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng trực thuộc thực hiện các chỉ thị, nghị quyêt của Đảng.
- Đảng uỷ khối doanh nghiệp tỉnh thực hiện sự hướng dẫn, kiểm tra, giám sát về chuyên môn, nghiệp vụ công tác và thực hiện chế độ thông tin, báo cáo với các cơ quan tham mưu, giúp việc tỉnh uỷ, thành uỷ theo quy định.
Điều 13. Với ban cán sự đảng, đảng đoàn, lãnh đạo các cơ quan (nơi không lập ban cán sự đảng, đảng đoàn) thuộc tỉnh
- Đảng uỷ khối doanh nghiệp tỉnh phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có liên quan tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp, đơn vị thuộc khối hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng đảng và thực hiện công tác cán bộ theo phân cấp.
- Đảng uỷ khối doanh nghiệp tỉnh phối hợp, tham mưu xây dựng cơ chế, chính sách, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển, xây dựng các tổ chức đoàn thể và thực hiện công tác cán bộ theo phân cấp.
Điều 14. Với ban cán sự đảng uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố
Đảng uỷ khối doanh nghiệp tỉnh lãnh đạo các tổ chức đảng trực thuộc triển khai thực hiện các nghị quyết của ban cán sự đảng uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố có liên quan đến nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, công tác cán bộ của các doanh nghiệp thuộc khối.
- Đảng uỷ khối doanh nghiệp tỉnh được tham gia ý kiến hoặc mời dự các cuộc họp của uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố bàn về những vấn đề có liên quan đến chủ trương, chính sách phát triển doanh nghiệp.
Điều 15. Với các huyện uỷ, thành uỷ, quận uỷ, thị uỷ, đảng uỷ trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ
Đảng uỷ khối doanh nghiệp tỉnh phối hợp trong lãnh đạo các tổ chức đảng trực thuộc chấp hành, thực hiện nghị quyết của cấp uỷ, chính quyền địa phương liên quan đến doanh nghiệp đóng trên địa bàn về phát triển kinh tế-xã hội, công tác quốc phòng, an ninh, chính sách dân tộc, tôn giáo, tài nguyên, môi trường, đất đai, dân số, kế hoạch hoá gia đình...; quản lý đảng viên, giữ mối liên hệ với cấp uỷ nơi cư trú; phối hợp trong công tác xây dựng đảng, trong việc học tập nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, của cấp uỷ địa phương có liên quan, trong việc bồi dưỡng lý luận chính trị, bồi dưỡng nhận thức về Đảng, bồi dưỡng đảng viên mới, bồi dưỡng cấp uỷ viên... khi có yêu cầu.
V- ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 16. Tổ chức thực hiện
- Căn cứ Quy định này, ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ và các cơ quan có liên quan triển khai thực hiện; chỉ đạo đảng uỷ khối doanh nghiệp tỉnh xây dựng quy chế làm việc của đảng uỷ khối và các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc cho phù hợp.
- Các cơ quan tham mưu, giúp việc tỉnh uỷ, thành uỷ căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao theo dõi việc thực hiện Quy định này, định kỳ báo cáo ban thương vụ tỉnh uỷ, thành uỷ theo quy định.
Điều 17. Hiệu lực thi hành
Quy định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Trong quá trình thực hiện, nếu cần bổ sung, sửa đổi Quy định, Ban Tổ chức Trung ương tổng hợp, báo cáo Ban Bí thư xem xét, quyết định.
T/M BAN BÍ THƯ
   Trương Tấn Sang (đã ký)

Thứ Năm, 2 tháng 12, 2010

NGHỊ ĐỊNH 87/2007/NĐ-CP QUI CHẾ DÂN CHỦ


CHÍNH PHỦ
________
Số :  87/2007/NĐ-CP
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
______________________________________
Hà Nội, ngày  28  tháng  5  năm 2007

NGHỊ ĐỊNH
Ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở công ty cổ phần,
công ty trách nhiệm hữu hạn
_______
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Sau khi thống nhất với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,

NGHỊ ĐỊNH :
Điều 1. Ban hành kèm theo Nghị định này Quy chế thực hiện dân chủ ở công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.
Điều 2. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Những quy định trước đây về thực hiện dân chủ trái với Quy chế ban hành kèm theo Nghị định này đều bãi bỏ.
Điều 3. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn có trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

Nơi nhận:                                                                         
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ; 
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
- Văn phòng BCĐTW về phòng, chống tham nhũng;
- HĐND, UBND các tỉnh,
  thành phố trực thuộc Trung ương;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;                      
- Văn phòng Quốc hội;
- Toà án nhân dân tối cao;                                                                
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán Nhà nước;
- UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;                                              
- VPCP: BTCN, các PCN,
  Website Chính phủ, Ban Điều hành 112,
  Người phát ngôn của Thủ tướng Chính phủ,
  các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
- Lưu: Văn thư, ĐMDN (5b). A.305   
        TM. CHÍNH PHỦ
          THỦ TƯỚNG








               Nguyễn Tấn Dũng
           


CHÍNH PHỦ

______

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

                   Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

______________________________________


QUY CHẾ
Thực hiện dân chủ ở công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn

(Ban hành kèm theo Nghị định số 87/2007/NĐ-CP 
ngày 28  tháng 5  năm 2007 của Chính phủ )
__________

Ch­ương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi và đối tư­ợng áp dụng
1. Quy chế này quy định việc thực hiện dân chủ ở công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn đ­ược thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 (sau đây gọi chung là công ty).
2. Đối tư­ợng áp dụng của Quy chế này là Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn (sau đây gọi chung là ng­ười quản lý công ty); Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở hoặc Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời; người lao động trong công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.
Điều 2. Mục đích thực hiện dân chủ trong công ty
1. Tạo điều kiện để ngư­ời lao động đư­ợc biết, được tham gia ý kiến, được quyết định và giám sát những vấn đề có liên quan đến quyền, lợi ích, nghĩa vụ và trách nhiệm của ng­ười lao động.
2. Nâng cao trách nhiệm, nghĩa vụ của ng­ười quản lý công ty đối với người lao động; tạo điều kiện để các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội của công ty hoạt động theo quy định của pháp luật trong việc thực hiện quyền dân chủ cho ng­ười lao động.
3. Thiết lập mối quan hệ lao động hài hoà, ổn định, góp phần ngăn ngừa và hạn chế tranh chấp lao động trong quá trình sản xuất, kinh doanh.
Điều 3. Quyền, nghĩa vụ của ngư­ời quản lý công ty và ng­ười lao động
1. Ng­ười quản lý và ngư­ời lao động trong công ty có nghĩa vụ thực hiện đúng hợp đồng lao động, thoả ư­ớc lao động tập thể, chấp hành các nội quy, quy chế của công ty và các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến quyền, nghĩa vụ của ng­ười quản lý và ng­ười lao động.
2. Người lao động có quyền tham gia giám sát việc thực hiện các chế độ, chính sách có liên quan đến quyền lợi hợp pháp, chính đáng và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
3. Ngư­ời lao động có quyền gia nhập các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp theo quy định của pháp luật.
Điều 4. Quyền và trách nhiệm của tổ chức Công đoàn trong phát huy dân chủ của ng­ười lao động
1. Công đoàn công ty là tổ chức đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ng­ười lao động và tập thể ngư­ời lao động, có trách nhiệm tổ chức để người lao động thực hiện quyền đ­ược biết, được tham gia, được kiểm tra, giám sát và được quyết định những vấn đề trực tiếp liên quan đến ng­ười lao động.
2. Chủ tịch Công đoàn công ty hoặc ng­ười do Ban Chấp hành Công đoàn công ty ủy quyền đư­ợc mời dự họp Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng thành viên công ty và được tham gia ý kiến về vấn đề liên quan tới quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể ng­ười lao động trong công ty.
Điều 5. Tổ chức Hội nghị ng­ười lao động trong công ty
1. Hàng năm ng­ười quản lý công ty có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Ban Chấp hành Công đoàn tổ chức Hội nghị ngư­ời lao động trong công ty.
2. Nội dung chủ yếu của Hội nghị ng­ười lao động là bàn giải pháp thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất, kinh doanh mà Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng thành viên đã thông qua; đánh giá việc thực hiện thoả ­ước lao động tập thể, các nội quy, quy chế của công ty; những vấn đề khác liên quan tới quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của ng­ười lao động.

Chư­ơng II
NHỮNG NỘI DUNG NG­ƯỜI QUẢN LÝ CÔNG TY
PHẢI CÔNG KHAI CHO NGƯ­ỜI LAO ĐỘNG BIẾT
Điều 6. Ng­ười quản lý công ty phải công khai cho ngư­ời lao động được biết
1. Các chế độ, chính sách của Nhà n­ước liên quan trực tiếp đến người lao động.
2. Nhiệm vụ và các chỉ tiêu kế hoạch hàng năm của công ty, của phòng, ban, phân xư­ởng, tổ, đội.
3. Các nội quy, quy chế, quy định của công ty.
a) Nội quy lao động, trang bị bảo hộ lao động, quy trình vận hành máy móc, thiết bị; nội quy an toàn lao động, vệ sinh lao động, bảo vệ môi trư­ờng, phòng, chống cháy nổ;
b) Quy chế tiền l­ương, tiền th­ưởng;
c) Quy định về định mức lao động, định mức khoán;
d) Các quy định về thi đua, khen th­ưởng.
4. Công khai việc trích lập và sử dụng các quỹ trong công ty liên quan đến ng­ười lao động.
a) Mức trích quỹ khen thư­ởng, quỹ phúc lợi hàng năm theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng thành viên;
b) Trích nộp kinh phí công đoàn;
c) Trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
5. Công khai tài chính hàng năm của công ty về các nội dung liên quan đến ngư­ời lao động.
6. Điều lệ công ty.
7. Các nội dung khác theo quy định của pháp luật.
Điều 7. Hình thức công khai
Tuỳ theo nội dung công khai, ngư­ời quản lý công ty chủ trì, phối hợp với tổ chức Công đoàn lựa chọn những hình thức công khai sau đây:
1. Thông báo tại Hội nghị ng­ười lao động trong công ty.
2. Thông báo trong các hội nghị giao ban.
3. Thông báo trực tiếp cho người lao động hoặc qua hệ thống thông tin nội bộ của công ty.
4. Thông báo cho các phòng, ban, phân x­ưởng, tổ, đội sản xuất.
5. Thông báo cho Ban Chấp hành Công đoàn hoặc Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời công ty.
6. Các hình thức khác.

Ch­ương III
NHỮNG NỘI DUNG NG­ƯỜI LAO ĐỘNG THAM GIA Ý KIẾN
Điều 8. Những nội dung ng­ười lao động tham gia ý kiến
1. Xây dựng và tổ chức thực hiện các nội quy, quy chế, quy định tại khoản 3 Điều 6 Quy chế này.
2. Nội dung của dự thảo hoặc dự thảo sửa đổi, bổ sung thoả ư­ớc lao động tập thể tr­ước khi ký kết.
3. Các giải pháp nâng cao năng suất lao động, chất l­ượng sản phẩm, hạ giá thành, tiết kiệm nguyên vật liệu, an toàn lao động, vệ sinh lao động, bảo vệ môi trường, cải thiện điều kiện làm việc, sắp xếp bố trí lao động.
4. Các vấn đề khác liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động.
Điều 9. Hình thức tham gia ý kiến của ngư­ời lao động
1. Thông qua Hội nghị ngư­ời lao động trong công ty.
2. Thông qua hội nghị triển khai công tác của các phòng, ban, phân xưởng, tổ, đội sản xuất.
3. Thông qua đối thoại giữa ngư­ời quản lý công ty và tập thể ngư­ời lao động.
4. Thông qua tổ chức Công đoàn.
5. Thông qua hòm th­ư góp ý.
6. Ng­ười quản lý công ty tiếp ngư­ời lao động theo định kỳ.

Chư­ơng IV
NHỮNG NỘI DUNG NG­ƯỜI LAO ĐỘNG QUYẾT ĐỊNH
Điều 10. Những nội dung ngư­ời lao động quyết định
1. Ký kết hợp đồng lao động, chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật về lao động.
2. Thông qua nội dung thoả ư­ớc lao động tập thể; các nội dung sửa đổi, bổ sung thoả ­ước lao động tập thể trư­ớc khi ngư­ời đại diện Ban Chấp hành Công đoàn hoặc Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời công ty ký kết với ngư­ời quản lý công ty.
3. Thông qua Nghị quyết Hội nghị ng­ười lao động.
4. Các nội dung khác theo quy định của pháp luật.
Điều 11. Hình thức quyết định của ngư­ời lao động
Ngư­ời lao động quyết định những nội dung quy định tại Điều 10 Quy chế này thông qua các hình thức sau:
1. Người lao động tự quyết định bằng văn bản.
2. Biểu quyết tại Hội nghị ng­ười lao động.
3. Thông qua tổ chức Công đoàn công ty.

Chư­ơng V
NHỮNG NỘI DUNG NGƯ­ỜI LAO ĐỘNG GIÁM SÁT
Điều 12. Những nội dung ng­ười lao động giám sát
1. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị ngư­ời lao động.
2. Thực hiện các nội quy, quy định, quy chế, điều lệ của công ty.
3. Thực hiện thoả ­ước lao động tập thể.
4. Thực hiện hợp đồng lao động.
5. Thực hiện các chế độ, chính sách đối với ngư­ời lao động; việc thu và sử dụng các loại quỹ do ngư­ời lao động đóng góp.
6. Kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp lao động.
7. Kết quả thi đua, khen thư­ởng hàng năm.
Điều 13. Hình thức giám sát của ngư­ời lao động
1. Thông qua tổ chức Công đoàn công ty.
2. Thông qua việc phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật.

Chư­ơng VI
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 14. Ngư­ời quản lý công ty có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Ban Chấp hành Công đoàn hoặc Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời tổ chức thực hiện Quy chế này.
Điều 15. Bộ Nội vụ chủ trì và phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ­ương chịu trách nhiệm chỉ đạo triển khai, kiểm tra việc thực hiện và hàng năm báo cáo Chính phủ về tình hình thực hiện Quy chế này.
Điều 16. Bộ Lao động - Th­ương binh và Xã hội phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hư­ớng dẫn việc tổ chức hoạt động của Hội nghị người lao động trong công ty.
Điều 17. Các công ty, tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc thực hiện Quy chế này sẽ đư­ợc xem xét khen thư­ởng theo quy định của pháp luật.               Tổ chức, cá nhân vi phạm Quy chế này thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật./.
                                                                             TM. CHÍNH PHỦ
                                                                                         THỦ TƯỚNG

      Nguyễn Tấn Dũng
                (Đã ký)